Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

AI LÀ THẦY ?


Nguyễn Mạnh Hùng Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Thái Hà Books


Bài học từ người quét rác
“Nếu không gặp được Allen - người quét rác 10 năm về trước có lẽ giờ này, tôi đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền”, Giám đốc Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ quan điểm sống của mình.
Học là việc của cả đời. Ngày tốt nghiệp đại học tôi mới mới bắt đầu sự nghiệp học hành của chính mình - học từ cuộc sống. Biết bao người thầy sau này đã dạy cho tôi vô vàn kiến thức. Họ là các giáo sư, tiến sĩ, các chủ tịch, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Tuy nhiên tôi không thể nào quên được một người thầy đặc biệt của mình - thầy Allen.
Hằng ngày từ ký túc xá trên phố Mountain - Sydney (Australia), tôi khoác ba lô đi học hay lên thư viện. Mỗi buổi sáng, tôi đều bắt gặp một anh công nhân vệ sinh thu dọn quanh khu nhà. Anh luôn tươi cười và kèm theo là lời chào rất thân thiện “Hello, how are you” (Chào bạn, bạn khỏe chứ?). Anh làm như vậy ngay khi gặp tôi. Về phần mình tôi luôn lẳng lặng bước đi, khuôn mặt lạnh tanh và khó chịu. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên một ý nghĩ duy nhất “Thằng cha này thấy sang bắt quàng làm họ. Hắn thấy tôi có chức vụ, có tiền bạc, có học thức nên muốn bắt quen đây. Hắn thì có khác gì mấy cô công nhân vệ sinh hay đi dọn rác trước cổng nhà mình ở phố Thái Hà, Hà Nội”.
Ngày tiếp theo, anh công nhân vệ sinh vẫn cười tươi, vẫn chào tôi hết sức niềm nở. Tôi vẫn khó chịu và đút hai tay vào túi quần đi thẳng. Khuôn mặt vênh váo. Ngày thứ ba vẫn vậy, anh quét rác lại chào tôi rất vui vẻ, khuôn mặt và thân hình thể hiện sự thân thiện với tôi. Tuy nhiên, trong lần này, để cho xong chuyện tôi đã trả lời anh ta một cách miễn cưỡng: “I am fine, thank you. And you?” (Tôi khỏe, cám ơn anh. Thế còn anh?) Tôi nói xong và chợt nhận thấy rằng mình đã cười. Tôi đã cười mà không biết, điều này không như trong kế hoạch ban đầu của một người coi thường anh công nhân dọn vệ sinh. Thú vị hơn tôi phát hiện ra khuôn mặt tươi tỉnh của chính mình, rằng hình như mình vui hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn, thư giãn hơn.
Vừa đi tôi vừa nghĩ về mình rồi lẩm bẩm: “Ta thật là ngu dốt”. Quả thật, từ trước đến nay, trong suốt bao nhiêu năm qua tôi đã có một suy nghĩ không đúng, rằng khi cười với ai đó tôi mang lại niềm vui cho họ. Khi bắt tay ai tôi luôn nghĩ mình ban ơn cho họ. Khi gần gũi ai, tôi luôn nghĩ họ được lợi từ tôi. Và, tôi thấy mình thật sai lầm. Bởi, khi tôi cười với anh công nhân quét rác này người được lợi đầu tiên không phải là anh ta mà là chính tôi.
Và tôi chợt nhận ra rằng anh ta đâu có biết tôi là ai. Anh không hề biết tôi có bao nhiêu tiền, làm chức vụ gì, có học thức đến đâu. Trong mắt anh ta tôi từ ký túc xá bước ra tức tôi là sinh viên, là người đi học. Dù có học tiến sĩ, thạc sĩ hay đại học vẫn là người đi học, là sinh viên. Mà thậm chí anh cũng chẳng quan tâm tôi có là sinh viên hay không.
Chủ tịch hội đồng quả trị Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng từng học đại học và sau đại học tại Nga (Liên Xô cũ). Ông từng đảm nhận vị trí quan trọng của nhiều doanh nghiệp và tổ chức lớn.
Ông Hùng từng học tập, công tác, tham quan, làm việc tại 39 quốc gia trong đó có Nga, Mỹ, Pháp, Australia, Anh, Nhật, Trung Quốc, Ai Cập, Thụy Điển, Italy... Biết 4 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nga, Trung trong đó 3 ngoại ngữ đầu thành thạo cả nghe, nói, đọc, viết. Tổng số thời gian sống ở nước ngoài là trên 16 năm.
Ông bắt đầu giảng về quản trị kinh doanh từ 2003 sau khi từ Sydney, Australia về VN. Nơi giảng là: Tổ chức InWent (Đức), Hội Doanh nhân trẻ Hà Nội, Hiệp hội Nữ Doanh nhân Hà Nội; Các công ty và Trung tâm đào tạo: Đào tạo và Tư vấn ngân hàng BTC, PTI, Vitoria, VCCI, Viện quản lý Châu Á, Công ty chứng khoán Thăng Long, Chứng khoán Đại Dương, Công ty Thành Nam, Công ty Hà An, Ngân hàng Quân đội MB, Ngân hàng nhà Habubank, ngân hàng An Bình, Techcombank, Tổng công ty Phát hành sách TP HCM Fahasa, Công ty Vinapay, Kiều Gia… và rất nhiều doanh nghiệp khác.
Trên thực tế tôi chỉ là một người châu Á da vàng, mũi tẹt. Nhưng anh ta cũng chẳng để ý đến chuyện ấy. Anh chỉ cười và chào tôi như đã và đang làm việc đó với tất cả những ai từ ký túc xá bước ra. Tất cả mọi người là bình đằng. Tất cả chúng ta là con người. Tôi thấy xẩu hổ và, tôi đã nhận ra vấn đề. Tôi đã được học một bài quý giá. Từ đó đi đâu, gặp ai tôi cũng chào và cười. Không chỉ cười mà là cười rất tươi. Cười từ trái tim mình, từ đáy lòng mình.
Một bữa nọ khi từ thư viện về tôi phát hiện ra Allen - người quét rác đang ngồi uống cà phê trong quán. Anh ăn mặc rất lịch sự, vừa nhấm nháp ly café vừa đọc sách. Ngạc nhiên và tò mò, tôi lại gần làm quen, cùng uống café, cùng nghe nhạc với anh. Tôi không ngờ rằng người mặc bộ quần áo bảo hộ, đi lau nhà, quét rác mỗi sáng bây giờ lại biến thành một người lịch lãm, trí tuệ thế này. Anh đọc sách say sưa và đọc khá nhanh. Bài học nữa tôi đã học được: Mỗi lúc chúng ta đang đảm nhận vai diễn nào đó, lúc đóng vai nào phải làm tốt vai đó. Hơn nữa, không nên coi thường người công nhân quét rác. Anh ấy cũng đọc sách, cũng nghe nhạc, cũng thưởng thức café và các món ăn.
Allen đã kể cho tôi nghe vanh vách về Kim Tự Tháp ở Ai Cập, về những gì còn sót lại từ vườn treo Babillon ở Iraq, về vùng đất lạnh và băng giá Siberie của nước Nga. Anh nói về thời kỳ La Mã, về chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ, về cuộc sống của người Eskimo. Đặc biệt anh nói về Việt Nam khi biết tôi là người Việt (Sau này anh kể rằng anh cứ ngỡ tôi là người Thái hay Indonesia).
Hóa ra Alen đam mê đi du lịch. Anh đi du lịch qua sách. Những hiểu biết của anh làm tôi kinh ngạc. Hóa ra anh rất hiểu biết và có trí nhớ và sự tưởng tượng tuyệt vời. Allen hỏi tôi khu vực Hạ Long có bao nhiêu hòn đảo? Khi đó, vì không biết, tôi đã nói đại rằng quãng 1.000 hòn. Allen đã giảng giải về các hòn đảo, về đại lý, khí hậu, thảm thực vật và thủy sản cũng như tính chất vùng biển của 1.960 hòn đảo, (chứ không phải con số 1.000 như tôi nghĩ) trong vùng diện tích 1.553 km2 này. Nhờ Allen mà tôi, có lẽ, đến chết không quên được những con số này.
Allen đề nghị tôi phân tích về nhạc Việt Nam, nhất là vấn đề đặc biệt của loại nhạc 5 nốt này. Tôi ngạc nhiên vì chưa bao giờ biết đến nhạc của đất nước mình lại chỉ có 5 nốt. Tôi luôn nghĩ nhạc gì thì nhạc, đã là nhạc thì phải là 7 nốt chứ. Cuối cùng tôi đã phải há miệng ra nghe Allen nói về chèo, về cải lương, về chầu văn, và về các loại nhạc cụ của Việt Nam, đất nước nơi tôi sinh ra và lớn lên. Allen đã dạy cho tôi bài học quý giá về tính tìm tòi khám phá, rằng tôi phải đọc nhiều hơn, tìm hiểu nhiều hơn, quan sát và ghi nhớ nhiều hơn.
Chính từ bài học quý giá này mà ngay sau khi về Việt Nam tôi đã quyết định lái xe làm một chuyến xuyên Việt. Tôi cũng quyết đi tham quan toàn bộ đất nước mình, không bỏ sót tỉnh nào. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã bỏ qua rất nhiều điều quan trọng, rằng tôi đã đi đến tận 39 quốc gia nhưng lại chẳng hiểu được nhiều thứ đang diễn ra ngay tại đất nước mình.
Ngày tôi đến thăm nhà của Allen, tôi lại học thêm được một bài học quý giá nữa. Allen có khoảng gần 1.000 cuốn sách. Là người học nhiều, đi nhiều, thường xuyên mua và đọc sách nhưng tủ sách của tôi cũng chỉ có quãng 3.000 cuốn. Còn Allen, một công nhân vệ sinh đã có một tủ sách quá vĩ đại. Anh đam mê sách và đã bỏ một khoản tiền lớn ra mua, trưng bày sách. Anh nói đã đọc hết những cuốn sách này. Thậm chí có những cuốn đọc đến 2-3 lần. Tôi nhớ khi đó tôi có mong muốn quỳ dưới chân anh xin nhận anh làm thầy.
Cũng tại những lần đến thăm anh, tôi đã được học cách nấu ăn. Làm sao nấu đơn giản, đủ chất, ngon miệng mà không quá cầu kỳ. Một tình bạn thân thiết đã nảy mầm giữa một doanh nhân với một anh quét rác. Chuyện này tôi không thể tưởng tượng được trước đó một vài năm. Từ ngày gặp Allen tôi bỏ hẳn các tính xấu của mình: kiêu ngạo, soi mói, coi thường người khác. Tôi cũng trở nên điềm đạm hơn, nói nhỏ hơn, ít nóng tính hơn. Tôi cũng không còn “bệnh” nhìn hình dáng bên ngoài mà kết luận con người nữa. Tôi luôn niềm nở và giúp đỡ mọi người. Tôi quyết định chọn sứ mệnh “sẻ chia” của mình từ ngày đó.
Cũng nhờ Allen và những người thày khác sau này tôi đã hiểu và thực hành nguyên tắc “cho mà không đòi hỏi, cho mà không cần nhận”. Tôi cũng đã triển khai mỗi ngày, mỗi giờ cách sống “pay it forward” - đáp đền tiếp nối. Cũng từ ngày đó cuộc đời của tôi luôn hạnh phúc, bình an và chan chứa yêu thương.
Gần chục năm đã trôi qua. Bây giờ nghĩ lại, nếu không gặp được Allen, chắc tôi vẫn đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền, không chút nghỉ ngơi, không dành thời gian để hiểu và sống hạnh phúc với những người xung quanh, trong đó có các bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm. Tôi thật biết ơn thầy tôi, bạn tôi - Allen.
Nguyễn Mạnh Hùng Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Thái Hà Books

SAO 200.000 ĐỘ


Vị trí tinh vân Bug trong chòm sao Bọ Cạp. Ảnh: Đại học Manchester.

Ngôi sao siêu nóng bị che khuất bởi một đám mây bụi và băng ở giữa tinh vân. Ảnh: Đại học Manchester.


một thiên hà xoắn ốc điển hình trong hôn mê chòm sao Berenices, là khoảng 56.000 năm ánh sáng và ánh sáng có đường kính khoảng 60 triệu năm xa



Ngôi sao nóng gấp 36 lần mặt trời
Các nhà thiên văn vừa phát hiện một ngôi sao có nhiệt độ bề mặt lên tới 200.000 độ C trong Ngân hà.


Daily Mail cho biết, ngôi sao siêu nóng đang ở giai đoạn cuối trong vòng đời và thuộc tinh vân Bug. Các chuyên gia thiên văn của Đại học Manchester (Anh) chụp được ảnh nó nhờ kính viễn vọng không gian Hubble.
"Ngôi sao này rất khó quan sát vì nó bị che khuất bởi một đám mây bụi và băng ở giữa tinh vân", Albert Zijlstra, giáo sư thiên văn của Đại học Manchester, phát biểu.

Theo Zijlstra, những tinh vân giống như Bug hình thành khi một ngôi sao sắp chết phun phần lớn vật chất ra không gian xung quanh. Tinh vân Bug cách trái đất khoảng 3.500 năm ánh sáng và thuộc chòm sao Bọ Cạp.
Mặt trời - có nhiệt độ bề mặt vào khoảng hơn 5.500 độ C - cũng trải qua những giai đoạn tương tự như sao siêu nóng. Giới khoa học cho rằng mặt trời sẽ nguội dần và chết trong vòng 5 tỷ năm nữa.


Vị trí của ngôi sao (được khoanh tròn) trong tinh vân Bug. Ảnh: Đại học Manchester.
"Nghiên cứu những tinh vân hành tinh giống như Bug là việc rất quan trọng, bởi chúng giúp con người hiểu rõ sự tồn tại của chúng ta trên trái đất", Zijlstra bình luận.
Những bức ảnh về ngôi sao sẽ được đăng trên tạp chí Astrophysical vào tuần sau.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

ANH HÙNG ĐÔNG HỒ !




Còn một "Người muôn năm cũ"
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Chưa có một tài liệu sử học mang tính khoa học nào nói về sự tồn tại của nghề vẽ tranh của Đông Hồ là bao nhiêu năm nhưng nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, một trong những người còn nặng nợ với duyên nghiệp của tổ tiên thì khẳng định với tôi, ít nhất phải có trên năm trăm năm. Theo gia phả dòng họ, ông Chế cho biết, từ thế kỷ 15, đời vua Cảnh Hưng, gia đình ông đã có truyền thống làm tranh. Làng Đông Hồ ngày xưa nằm trong xã Tú Hồ, trong bốn thôn của xã chỉ duy nhất có người thôn Đông Hồ là làm được tranh. Cũng là thôn duy nhất không có ruộng cày cấy. Người dân chỉ chuyên tâm vào làm vẽ tranh. Và ở thời hoàng kim của làng, không có gia đình nào là không có người tham gia vẽ tranh. Nhưng mỗi gia đình có một thế mạnh và những bức vẽ khác nhau nên tạo ra được những nét đa dạng và phong phú của loại hình nghệ thuật này. Từ tháng 8 âm lịch, người dân đã bắt đầu làm tranh, đợi đến tháng 12 âm sẽ đem bán ở đình Đông Hồ, phục vụ người dân và du khách thập phương. Ngày đó, chợ đình cũng chỉ họp một tháng 5 phiên, những bức tranh như: Đám cưới chuột, Đàn lợn âm dương, đánh ghen, trèo dừa... là được người dân ưa chuộng nhất. Nhà ai ít nhất cũng phải có một vài bức tranh treo trong nhà. Nó là dấu hiệu cho năm mới.
So với các loại hình nghệ thuật khác, tranh Đông Hồ là một loại hình mang đậm dấu ấn của văn hoá dân gian. Các bức tranh đều khuyết danh, được nhiều thệ hệ bồi đắp, phong phú thêm dần vào nội dung các bức vẽ. Cũng không ai có thể đưa ra một câu khẳng định chính xác. Tranh Đồng Hồ có bao nhiêu loại, bao nhiêu nội dung... Đến một người bỏ cả đời ra làm tranh, nhằm vực lại nét văn hoá của tổ nghiệp như ông Chế bây giờ có trong tay 180 bản vẽ các loại tranh. Cũng chẳng biết đã đủ hay không, nhiều hay ít? Dù ông Chế có nói rằng, phát hiện bất kỳ một bản vẽ nào, dù có phải mua với giá bao nhiêu, ông cũng sẽ cố gắng có được để thu về một mối.

Một bức tranh Đông Hồ được hình thành bởi năm màu sắc. Màu trắng của giấy Điệp, đỏ của son, vàng của hoa hoè, đen lá tre và xanh của chàm. Tức là hoàn toàn màu và chất liệu tự nhiên có trong dân gian. Không bị chi phối của hoá chất. Và, mỗi bức tranh đều là những bài học ý nghĩa được đúc rút từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống. Ví như Đám cưới chuột, họ hàng nhà chuột muốn cưới vợ, rước chú rể cùng lá cờ ghi chữ “Nghênh hôn” thì bên cạnh lại phải có một bộ phận khác mang quà cáp đến cho ‘ông mèo” với lá cờ “Thủ lễ”. Đó là bức tranh nhằm đả kích tầng lớp thống trị thời phong kiến. Hay bức tranh “Hứng dừa” lại là lời ca về lòng chung thuỷ, thuận vợ thuận chồng với hai câu thơ: “Trong như ngọc trắng như ngà/Đây trèo đấy hứng cho vừa lòng nhau”. Bức “Đánh ghen” có vẽ cây đa, một ông chồng và hai bà vợ là một ngụ ý lên án chế độ đa thê. Bà vợ hai được chồng yêu chiều nên thách thức bà vợ cả, ông chồng khó xử chẳng biết can ngăn ra sao nên các tác giả dân gian cho thêm vào hai câu thơ: “Thôi thôi nuốt giận làm lành/Chi đừng sinh sự nhục mình nhục ta”. Tranh Đông Hồ là những bức tranh phản ánh về cuộc sống, văn hoá, tình cảm và tín ngưỡng... Được các tác giả khuyết danh nghĩ ra nhưng nhìn vào những phân tích ở trên thì chúng ta có thể thấy, dù khuyết danh nhưng đó phải là sản phẩm của những người trí thức, được đọc sách vở thánh hiền. Hàng trăm năm nay, vẽ tranh đã tạo nên cho Đông Hồ một tên gọi, một sự nhắc nhớ về cội nguồn văn hoá. Câu ca này đã có rất lâu, nhưng nhiều người già vẫn thuộc: “Cô kia mà thắt lưng xanh/Có về làng Mái với anh thì về/Làng Mái có lịch có lề/Có sông tắm mát có nghề làm tranh”. Làng Đông Hồ, ngày xưa còn có tên gọi là làng Mái
Một người muôn năm cũ...
Bây giờ vào làng Đông Hồ hỏi thăm gia đình ông Chế thì ai cũng biết. Ông cũng chẳng nổi tiếng gì nhưng ở cái làng mà một thời nhà nhà vẽ tranh cho đến bây giờ những người còn theo nghề chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong đó có gia đình ông, thì mọi người phải biết. Có một thời gian dài làm giảng viên của trường ĐH Mỹ Thuật Công Nghiệp, rồi cán bộ của NXB Mỹ Thuật thì có thể nói chất “nghệ”, nhu cầu được gắn với giấy điệp, bản khắc... trong ông còn đậm lắm. Đấy chưa kể, ông còn là hậu duệ đời thứ 22 của một dòng họ vẽ tranh Đông Hồ nức tiếng xứ Kinh Bắc một thời.
Năm nay đã 73 tuổi, từ khuôn mặt cho đến dáng đi chẳng khác một lão nông tri điền nhưng được mục sở thị những ngón tay ông múa trên tấm giấy điệp rất mực tài hoa thì mới hiểu tại sao, ở người đàn ông đã thất thập cổ lai hi này lại đam mê và còn đắm đuối với nét văn hoá của cha ông đến vậy. Về hưu năm 1995, sau bao nhiêu năm mải mê với công việc của viên chức nhà nước, có tuổi trở về làng. Bước vào mảnh đất sản sinh ra nghề vẽ tranh mà như bước vào nơi xa lạ, ông Chế đã khóc nức nở. Dấu tích của một thời chẳng còn mấy, ông Chế đã ba ngày ba đêm ra thắp hương lên phần mộ của tổ tiên để làm sao các bậc tiền nhân soi đường chỉ lối cho ông có thể vực lại nghề truyền thống của dòng họ, làng xã, chứ cứ thế này thì chẳng bao lâu nữa từ tranh Đông Hồ có lẽ sẽ biến mất thực sự. Mà như thế thì những thế hệ đi sau như ông và lớp con cháu quả thật có tội với bậc tiền nhân. Ông viết đơn đi khắp nơi, run rủi thế nào, nhà văn hoá Hữu Ngọc cũng biết chuyện, ông Ngọc ngồi nói chuyện với ông Chế suốt một buổi chiều rồi từ giã ra về, chẳng biết ý tứ thế nào nhưng ông Chế bảo, những tâm tư tình cảm cũng như trăn trở ông kể hết. Ở tuổi của ông, để làm kinh tế hoặc vụ lợi gì cho mình thì không có lý. Ba ngày sau, Quỹ văn hoá Thuỵ Điển và nhà văn hoá Hữu Ngọc lại xuống Bắc Ninh. Lúc này con đường của ông Chế ít nhiều đã bớt đơn độc. Chút tài sản tích góp được mấy chục năm làm công chức, ông Chế bỏ hết ra tìm mua những bản khắc cổ đang còn rải rác trong nhân gian. Mấy đứa con ông phát hoảng nhưng giờ thì ít nhiều chúng đã hiểu tấm lòng của ông.

Hiện nay ông Chế đang có trong tay 26 bản khắc cổ. Có những bản đã tồn tại gần 10 đời, những bức tranh tồn tại hàng trăm năm... Hai người con thấy ông đắm đuối quá, cũng tình nguyện bỏ nghề làm hàng mã đang phát triển để quay lại cùng bố làm tranh. Để có thể có đất gây dựng lại nghề truyền thống, được sự giúp đỡ của một số tổ chức phi chính phủ, UBND Huyện Thuận Thành đã cho gia đình ông thuê 5500m2 đất để ông có thể hoạt động như mục đích đề ra: sưu tầm, bảo tồn, phục chế và phát triển tranh Đông Hồ. Còn sức còn làm. Cái mong muốn mà ông Chế bảo ông còn có thể thực hiện được là đào tạo những nghệ nhân làm tranh. Nhưng thấy vẫn còn mông lung lắm. Vì ở làng, bây giờ chỉ còn gia đình ông và một hộ nữa là vẫn đang theo nghề vẽ tranh. Với một làng nghề truyền thồng có hàng trăm năm như Đông Hồ thì có thể nói đây là những hộ gia đình đang đơn thương độc mã. Cũng chẳng biết họ sẽ xoay xở như thế nào với cơ chế thị trường…
Hướng đi nào cho tranh?
“Đúng là với một làng nghề có truyền thống lâu đời như Đông Hồ mà chỉ còn hai hộ gia đình làm thì qủa là buồn và đáng lo.” Ông phó chủ tịch xã Song Hồ, Nguyễn Như Điều cũng phải cám cảnh nói với chúng tôi như vậy. Theo lời ông Điểu, với những nét văn hoá độc đáo không chỉ của Bắc Ninh mà còn mang tính quốc gia như tranh Đông Hồ mà bây giờ ở vào một hoàn cảnh như vậy thì không ổn. Nhưng ở thẩm quyền của xã thì xã chịu. “Người dân không tìm được đầu ra. Mà cấp xã như chúng tôi thì liên hệ giao dịch để tạo một hướng đi cho những nghệ nhân là rất khó. Cũng mong làm sao các cơ quan báo chí, rồi các tổ chức xã hội nêu ra được thực trang để biết đâu qua đó có những hướng giải quyết, vực dậy chưa nói nhưng bảo tồn và lưu giữ những nét văn hoá phi vật thể này thì rất cần. Có chủ trương là chúng tôi thực hiện ngay. Thậm chí đào tạo cho con em bằng việc mở các lớp học chúng tôi cũng sẵn sàng.”

Có dịp tiếp xúc với một số người nước ngoài đến thưởng ngoạn tranh ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, họ cũng tỏ ra rất thú vị và yêu mến những nét hoạ từ bức tranh đã tồn tại trên đất nước Việt Nam hàng mấy thế kỷ. Ông Chế bảo ngày nào cũng có khoảng 8 đến 10 đoàn khách quốc tế đến thăm và thưởng ngoạn tranh. Cuối năm 2007 vừa qua, ông Lê Doãn Hợp, uỷ viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch cũng đã có dịp đến thăm và viết lưu niệm tại gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: “Chúc bác Nguyễn Đăng Chế tiếp tục phát huy truyền thống gia đình trong việc tôn vinh văn hoá dân tộc từ nghề làm tranh, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế và chấn hưng văn hoá dân tộc, đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế thắng lợi.” Với ông Chế, những ghi nhận đó là nguồn động viên để ông tin vào con đường mình đang đi. Nhưng ông cũng buồn, vì tuổi đã cao, mà con đường thì còn xa quá...
(ST)

PHẠM TIẾN DUẬT



Cố nhà thơ Phạm Tiến Duật

Tiểu sử nhà thơ Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1, 1941 - 4 tháng 12, 2007, ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và chữ Pháp, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ. Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ.

Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt nam. Hiện nay, ông sống ở Hà Nội, là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng là người dẫn chương trình của một chương trình dành cho người cao tuổi của kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam

Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Ngày 4 tháng 12 năm 2007, vào khoảng 8h50, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi.

Đóng góp

Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ. Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái "tinh nghịch" nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây".

Những tập thơ chính:

• Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính"
• Thơ một chặng đường (thơ, 1971)
• Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
• Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)
• Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)
• Nhóm lửa (thơ, 1996)
• Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
• Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)

Ông được ca tụng là "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại", "cây săng lẻ của rừng già”, "nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá là "có sức mạnh của một sư đoàn".

ĐIỆN KÍNH THIÊN ( HÀ NỘI )



Điện Kính Thiên

Hoàng thành Thăng Long qua các triều đại có thể to nhỏ khác nhau, vòng thành có thể rộng hẹp khác nhau, nhưng trên trục hoàng đạo nối từ Cửa Bắc đến Cửa Nam có một địa điểm không khi nào thay đổi, đó chính là Điện Kính Thiên.

Từ khi triều Nguyễn rời đô vào Huế, đã đổi cả tên lẫn đơn vị hành chính của Kinh thành Thăng Long ra Bắc Thành rồi tỉnh Hà Nội, thành quách bị phá đi xây gọn nhỏ lại.(CÓ TIN NÓI DO NGUYỄN ÁNH TRẢ THÙ TRIỀU TRƯỚC ĐÃ GIẾT CHA NGUYỄN ÁNH MÀ THÀNH QUÁCH BỊ PHÁ ĐI) Không gian của Điện Kính Thiên xưa, nay được làm nền xây Hành Cung để mỗi lần Hoàng đế ngự giá Bắc Hà làm nơi Ngài ngự và tiếp kiến quần thần.

Điện Kính Thiên đương nhiên không còn như xưa, duy nhất còn mấy đôi rồng đá rất đặc trưng của nghệ thuật tạo hình thời Lê là còn nguyên vẹn, trừ mấy đôi rồng nhỏ phía sau đã bị mất. Toà Hành Cung vẫn hiện diện khi quân Pháp mới chiếm thành nên ta mới có hính ảnh toà nhà xây trên nền Điện cũ khá hoành tráng. Ảnh này được chụp nhưng để in họ phải chuyển sang hình thức khắc đồng (iconographie) (ảnh 1).

Nhưng rồi toà kiến trúc ấy cũng biến mất, thay bằng những bức tường dày xây gạch làm công trình phòng thủ của đội quân chiếm đóng khi chiến sự chưa chấm dứt (ảnh 2).

Hình bóng những tên lính đánh thuê ngoại quốc lố nhố trên nền điện linh làm ta liên tưởng đến câu ca trong áng văn vần “Hà Thành thất thủ” nói lên cái nỗi nhục của một dân tộc bị mất nước :

“Kính Thiên ngai ngự thiếp vàng
Tây ngồi đánh chén với đoàn thanh lâu”

Đến năm 1887, khi công cuộc bình định của người Pháp đã hoàn thành, trên nền điện cũ, thực dân xây một kiến trúc hoàn toàn Tây phương làm Đại bản doanh lực lượng Pháo binh thuộc địa (Direction d’ Artillerie)

Sau ngày ta tiếp quản Thủ đô (1954), khu vực thành cũ trở thành doanh trại quân đội ta và Toà nhà trên Điện Kính Thiên được củng cố tầng hầm để trở thành “Tổng hành dinh” chỉ huy cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Vì thế ngày nay, không gian này trở thành một di tích “kép” cho cả hai thời đại, Điện Kính Thiên của Hoàng thành Thăng Long xưa (đang được đệ trình UNESCO công nhận quần thể Hoàng thành là Di sản Văn hoá Thế giới) và Bộ Tổng chi huy Quân đội Nhân dân, di tích lịch sử quan trọng của Lịch sử hiện đại Việt Nam.

NỀN KINH TẾ MỚI


MỘT NGÔI SAO CHỔI LƯỚT NGANG TRỜI !


Các nền kinh tế mới nổi châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Inđônêsia, và Singapore) công bố tổng sản phẩm quốc nội GDP quí II/2009 tăng bình quân trên 10%. Trung Quốc được đánh giá là quốc gia đầu tiên thoát khỏi khủng hoảng, bởi vì:
Thứ nhất, nhờ kết hợp thành công nền kinh tế thị trường với hơn 30 năm mở cửa, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc liên tục đạt từ 9%;
Thứ hai, chính phủ Trung Quốc có nhiều chính sách tiền tệ linh hoạt, đây là điều mà các nền kinh tế mới nổi khác chưa thể chuẩn bị được;
Thứ ba, Trung Quốc có thị trường tiêu thụ nội địa lớn, điều này các quốc gia khác không thể có và dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (hơn 2 nghìn tỉ USD) và có thể đạt 2,7 tỉ USD vào cuối năm 2009. Sản xuất công nghiệp trong tháng 7/2009 của Trung Quốc tăng trưởng 11%, đầu ra của sản phẩm điện tử và ô tô đạt cao kỷ lục. Gói kích thích kinh tế khổng lồ 586 tỉ USD đã có tác động quyết định đến sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc. Trong khi ngành công nghiệp ô tô của thế giới đang lao đao thì doanh số xe hơi của Trung Quốc vẫn tăng 30% trong 8 tháng đầu năm 2009. Trung Quốc vượt Mỹ và trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nhật Bản trong nửa đầu năm 2009. Trong bối cảnh tiêu dùng giảm mạnh trên thế giới, Trung Quốc chuyển hướng sang kích cầu nội địa, lĩnh vực có tiềm lực lớn. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) dự đoán sau 2 năm Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vói tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 12% năm 2012.

Việt Nam là thị trường mới nổi có sức hấp dẫn nhất châu Á do chi phí sản xuất thấp và số dân trong độ tuổi lao động tương đối nhiều. Việt Nam nằm trong top 10 nước có tốc độ tăng trưởng cao. Các nền kinh tế mới nổi châu Á bật nhanh nhờ có 3 yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, do ngành chế tạo ở những nước này chiếm tỉ trọng lớn trong ngành kinh tế. Ngành điện tử và ô tô là 2 ngành công nghiệp có tính tuần hoàn cao, nhu cầu giảm nhanh nhưng cũng tăng nhanh khi kinh tế có dầu hiệu phục hồi;

Thứ hai, do mức giảm xuất khẩu đã chậm lại trong những tháng đầu năm 2009;

Thứ ba, do chương trình chấn hưng nền kinh tế có qui mô lớn hơn so với các nước phương tây, hiệu quả nhanh hơn dẫn đến nhu cầu tiêu thụ ở thị trường nội địa khôi phục nhanh hơn.

Theo báo cáo của Hội đồng Tình báo quốc gia Mỹ (NIC), các nền kinh tế mởi nổi châu Á sẽ có triển vọng sáng sủa nhờ thị trường tiêu dùng rộng lớn, hứa hẹn nhanh chóng vượt cả Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cộng lại. Năm 2025, Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới; năm 2035 tổng sản phẩm quốc dân của Trung Quốc và Ấn Ðộ vượt Mỹ; Giai đoạn 2040-2050, GDP của BRIC bắt kịp G-7. Ngân hàng Thương mại Mỹ Goldman Sachs đánh giá, tài sản của BRIC sẽ vượt của Mỹ, Ðức, Pháp, Anh, Italy và Nhật Bản gộp lại vào năm 2040. Công ty Tài chính toàn cầu Barclays ước đoán, vào năm 2017 Ấn Ðộ có 411.000 triệu phú USD (hiện có 100.000 người), đứng thứ tám thế giới về số người có tài sản trên 1 triệu USD vào năm 2017. Trung Quốc hiện có số tỉ phú lớn thứ 2 thế giới (sau Mỹ) với khoảng 260 người. Tổng tài sản của 1000 người giàu nhất Trung Quốc trong Báo cáo thường niên của Tạp chí Hurun ngày 14/10/2009 có giá trị 571 tỉ USD, tăng 130 tỉ USD so với năm 2008.

Những nền kinh tế mới nổi có sức hút đầu tư nước ngoài (FDI) lớn.

Với 3 tỷ dân và sở hữu phần lớn dự trữ ngoại hối trên thế giới, các nền kinh tế mởi nổi châu Á sẽ trở thành nơi đầu tư được lựa chọn vì có đủ điều kiện phát triển và khá ổn định về chính trị. Tình hình các nước BRIC lành mạnh, tiềm lực tài chính tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ là những nhân tố hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư quốc tế.

Tổng vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu Hàn Quốc đạt 14,8 tỉ USD (tháng 6/2009) và dự báo xu hướng này sẽ vẫn tiếp tục ổn định nhờ những xử lý lính hoạt và hiệu quả của Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) trong việc giải quyết nợ nước ngoài nhưng vẫn duy trì dự trữ ngoại tệ ở mức trên 210 tỉ USD (đứng thứ 6 trên thế giới). Đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc trong 7 tháng đầu năm 2009 tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Hàn Quốc đang tiếp tục tạo dựng môi trường "ngoại thương thân thiện" thông qua nhiều biện pháp khuyên khích đầu tư nước ngoài. Cụ thể, chính phủ miễn hoàn toàn thuế thuê đất cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất vật liệu và phụ tùng máy móc.

Trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm tới 4, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Ba thị trường đang nổi là Brazil, Trung quốc và Ấn Độ thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài, bởi vì, Thứ nhất, đối với Trung quốc, nhờ có chính sách tài khóa linh hoạt và mức dự trữ lớn 2 nghìn tỷ USD; Thứ hai, thị trường chứng khoán của Ấn Độ có giá cao hơn chứng khoán ở các nước châu Á khác do các công ty của Ấn Độ làm ăn tốt hơn và tạo cơ hội thu lời chứng khoán cao hơn; Thứ ba, trong khi nhu cầu dầu và nguyên liệu cơ bản giảm mạnh thì hàng hóa nông nghiệp được sản xuất tại Brazil lại ít bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế. Hệ thống ngân hàng của Brazil vững chắc với mức nợ trong tầm kiểm soát và tăng trưởng trong cho vay nội địa. FDI vào Trung Quốc mỗi năm đạt khoảng 87 tỷ USD và chiếm khoảng 6% tổng FDI toàn cầu giai đoạn 2007-2011. Trung Quốc vẫn là điểm đến hàng đầu cho FDI đứng trên cả Mỹ, Brazil và Nga.

Các nền kinh tế mới nổi có tiềm năng lớn về thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ

Dân số đông và thị trường rộng lớn là những điểm hấp dẫn khác nữa của các nền kinh tế mới nổi. Trong khi dân số của các nước phát triển chỉ khoảng 960 triệu người năm 2008 thì dân số của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển chiếm tới 5.721 triệu người. Riêng nhóm BRIC đã chiếm 42% dân số thế giới và 13% khối lượng giao dịch thương mại toàn cầu năm 2008. Dân số ở các nền kinh té mới nổi và đang phát triển trẻ hơn (chiếm 46,8%) so với 29,7% ở các nước phát triển. Các nền kinh tế mới nổi như Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ phụ thuộc nhiều vào tiêu dùng nội địa. Giới trẻ sẽ là những người tiêu dùng nhiều nhất, giúp cho nền kinh tế trụ vững chắc. Một khi đã trụ vững và vượt qua khỏi khủng hoảng thì thị trường tiêu thụ ở các nền kinh tế mới nổi này sẽ là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư ở tất cả các lĩnh vực.

Các nền kinh tế mởi nổi sẽ giữ vai trò lãnh đạo mới trong xu hướng kinh tế toàn cầu.

Các nền kinh tế mởi nổi châu Á, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Ðộ, sẽ định hướng nền kinh tế thế giới trong tương lai và có sức mạnh ngày càng lớn. Về tốc độ phát triển, BRIC có thể bắt kịp G-8. BRIC sẽ bù đắp sự giảm sút tiêu dùng ở các nước phát triển (riêng ở Mỹ chiếm 21% GDP toàn cầu). Các nền kinh tế mới nổi sẽ cung cấp không chỉ nguyên vật liệu và nhân công rẻ, mà quan trọng hơn, là cung cấp khả năng và tính sáng tạo của con người.

Hàn Quốc đã vươn lên thành nước xuất khẩu lớn thứ 10 trên thế giới. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 104,9 tỉ USD (4/2009) vượt Canada. Chỉ số lòng tin tiêu dùng của người dân Hàn Quốc và của giới doanh nghiệp liên tục tăng. Hàn Quốc vượt qua khủng hoảng và phục hồi nhanh nhờ thặng dư cán cân vãng lai và những yếu tố cơ bản sau: Thứ nhất, chính phủ Hàn Quốc đã thúc đẩy thực hiện các chính sách ổn định tài chính và tài chính mở rộng từ cuối năm 2008; Thứ hai, Hàn Quốc có lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào, lên đến 240 tỉ đô-la Mỹ, tỉ lệ lãi suất và tỉ giá hối đoái ổn định giúp cho nền kinh tế phục hồi nhanh; Thứ ba, công nghiệp ô tô đóng tàu và công nghiệp bán dẫn của Hàn Quốc có tính cạnh tranh cao, giữ vững sức mạnh cho xuất khẩu ổn định của quốc gia, Với nền tảng chính trị vững chắc, Hàn Quốc sẽ không gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các biện pháp can thiệp tài chính mạnh mẽ. Theo OECD, Hàn Quốc sẽ là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng GDP cao (khoảng 4,9%) trong giai đoạn 2011 -2017.

Với tiềm năng tăng trưởng, sự năng động trong kinh doanh, tỷ lệ tiết kiệm cao, dân số lao động chăm chỉ và một loạt các biện pháp đối phó với khủng hoảng, các nền kinh tế mới nổi đã vượt qua được cuộc khủng hoảng tài chính. Hiện 2/3 thế giới sống trong các nền kinh tế mới nổi, vì vậy, nếu các nền kinh tế mởi nổi có vai trò hơn nữa và cùng hợp sức lại, cùng cố gắng để giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội thì sẽ làm cho các nền kinh tế mới nổi hấp dẫn hơn và ít rủi ro hơn.
(st)

CHỮ TÂM LÀ GÌ ?


BOM NGUYÊN TỬ ĐƯỢC MỸ THẢ 1945,NHỜ VẬY NHẬT ĐẦU HÀNG, CHẤM DỨT THẾ CHIẾN THỨ II ?
Chữ Tâm

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người:
- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá …
Cho nên , ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:
- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên trán để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.
Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2009

Dự phỏng đoán ĐH 11 tháng 1/2011


Trương Tấn Sang-2006

19.10.2009

Trong Bộ Chính trị Đảng ta hiện nay, có 15 vị, thì có 5 vị cùng sinh năm 1949. Đó là ông Trương Tấn Sang, thường trực Ban bí thư, giống như chức Phó tổng bí thư. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng. Ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an. Ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng. Và ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Hà Nội. Năm 1949 là năm Kỷ Sửu, cầm tinh con trâu. Trong Bộ chính trị có 5 con trâu kéo cày, thì quả là khỏe. Cho nên Đảng ta chắc còn mạnh nhiều năm nữa. Ông Trương Tấn Sang, còn gọi là Tư Sang, nguyên là Giám đốc Sở nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Thường vụ Thành ủy, thời ông Phan Văn Khải còn làm Chủ tịch thành phố, giai đoạn 1991-1996. Khi đó, ông Sang còn rất trẻ, chỉ hơn 40 tuổi.

Trong Khóa 6 Thành ủy TP Hồ Chí Minh 1996-2000, ông Sang làm Chủ tịch thành phố, rồi Bí thư. Khi làm Bí thư TP Hồ Chí Minh, ông Sang đương nhiên được vào Bộ chính trị, từ khóa Đại hội Đảng toàn quốc thứ 8 (1996-2001). Khi đó, ông Sang đứng thứ 14 trong Bộ chính trị.

Khóa 8 này, Bộ chính trị có tới 23 vị. Vì Bộ chính trị khóa 8 đông như vậy, nên cần có Thường vụ Bộ chính trị gồm 7 vị, bao gồm cả ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó chỉ là Trưởng Ban kinh tế trung ương. Ông Thủ tướng Phan Văn Khải, (làm Thủ tướng từ 1997 đến 2006), khi đó lại không được vào Thường vụ Bộ chính trị, chỉ là Ủy viên Bộ chính trị thường, vai trò kém hơn Ủy viên Thường vụ Bộ chính trị. Sở dĩ có chuyện như vậy, là vì ông Nguyễn Tấn Dũng được ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt (làm Thủ tướng từ năm 1992 đến 1997) đỡ đầu. Không có ông Kiệt đỡ đầu, thì ông Dũng không thể lên nhanh như diều như vậy được. Ông Kiệt đưa ông Dũng từ Bí thư tỉnh Kiên Giang ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Nội Vụ (nay là Bộ Công an) hơn 1 năm, rồi đưa sang làm Trưởng Ban kinh tế Trung ương, để ông Dũng làm quen với việc quản lý kinh tế. Sau đó, ông Kiệt cố gài bằng được ông Dũng vào Thường vụ Bộ chính trị, vì ông Kiệt muốn đưa ông Dũng làm Thủ tướng, thay ông Kiệt vào năm 1997, khi ông Kiệt nghỉ hưu, chuyển sang làm Cố vấn. Thế nhưng kế hoạch của ông Kiệt không thành, nên vào năm 1997, ông Phó Thủ tướng Phan Văn Khải lên làm Thủ tướng, chứ không phải là ông Dũng. Rồi sau đó cơ cấu Thường Vụ Bộ chính trị cũng bị xóa bỏ. Mặc dù không thành, nhưng ông Kiệt cũng đưa được ông Dũng sang làm Phỏ Thủ tướng thường trực, để chờ thời. 10 năm sau, nguyện vọng của ông Kiệt đưa ông Dũng làm Thủ tướng mới thực hiện được, vào năm 2006.

Trở lại chuyện ông Tư Sang. Ông làm Bí thư Sài Gòn được gần 1 năm, thì ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư Sông Bé được điều về làm Phó bí thư Sài Gòn, vào tháng 1 năm 1997. Khi ông Triết về Sài Gòn, thì tỉnh Sông Bé được tách ra làm 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Tỉnh Sông Bé thời ông Triết làm Bí thư đã có sự phát triển vượt bậc, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài. Sài Gòn dưới thời ông Sang làm Bí thư trì trệ bao nhiêu, thì Sông Bé phát triển rực rỡ bấy nhiêu. Khi đó, Sông Bé thu hút tới 70% vốn đầu tư nước ngoài, còn Sài Gòn chỉ được 30%. Cho đến bây giờ, tỉnh Bình Dương vẫn là điểm thu hút đầu tư nước ngoài mạnh hàng đầu của Việt Nam.

Chính vì lẽ đó, Trung ương dự kiến ông Triết sẽ lên làm Thủ tướng thay ông Khải, khi ông Khải nghỉ vào khóa Đại hội Đảng 9 năm 2001. Và bước đệm chuẩn bị nhân sự này, là đưa ông Triết về làm Phó Bí thư Sài Gòn, để lên làm Bí thư, sau đó ra Hà Nội làm Thủ tướng là vừa đẹp. Thế nhưng ông Sang biết là ra Hà Nội là tương lai của ông sẽ chấm dứt, nên ông lần lữa không muốn ra. Thế cho nên ông Triết đành phải ra Hà Nội làm Trưởng Ban dân vận Trung ương vào tháng 12 năm 1997, sau 11 tháng làm Phó bí thư Sài Gòn, để chờ thời.

Ông Sang kể cũng là người rắn đầu. Đầu năm 2000, ông Sang mới chịu ra Hà Nội, làm chân Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, để ông Triết quay lại Sài Gòn làm Bí thư. Vì ông Sang vẫn còn trẻ, nên không có cớ gì để đưa ông ra khỏi Bộ chính trị, nên vào Đại hội Đảng khóa 9, năm 2001-2006, ông vẫn là Ủy viên Bộ chính trị, ở vị trí số 10 trong 15 vị.

Trong suốt 6 năm làm Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng Ban kinh tế Trung ương, người ta thấy ông Tư Sang đôi khi xuất hiện đi thăm đồng bào bị bão lụt. Hầu như chỉ có vậy. Cái chức vụ “hữu danh vô thực” đó, làm sao sánh được với khi ông còn làm vua ở Sài Gòn hoa lệ. Ông Sang bị mất uy tín nhiều, vì thời ông làm Bí thư Sài Gòn, để xảy ra vụ 5 Cam, và nhiều vụ bê bối khác, mà ông Triết phải là người dọn dẹp.

Ở Đại hội 10 năm 2006-2011, bầu Tổng bí thư không khó lắm, vì vẫn chỉ có ông Nông Đức Mạnh là có đủ uy tín. Nên ông Mạnh được bầu lại làm Tổng bí thư khóa nữa dễ dàng. Bầu Thủ tướng mới gay go. Ông Nguyễn Tấn Dũng mặc dù được ông Võ Văn Kiệt chuẩn bị khá kỹ càng, cho nắm đủ các chức vụ liên quan đến kinh tế, kể cả kiêm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong 2 năm 1998-1999, nhưng ông vẫn không có nhiều uy tín về khả năng lãnh đạo. Cho nên trước khi vào Đại hội 10 năm 2006, khóa Đại hội 9 phải có tới Hội nghị trung ương thứ 15 để thảo luận về nhân sự.

Một khóa Đại hội Đảng 5 năm, thường chỉ có 12 hoặc 13 Hội nghị Trung ương, mỗi năm 2 Hội nghị. Nhưng riêng Đại hội 9 (2001-2006) phải có tới 15 Hội nghị, để thống nhất chọn ông Dũng làm Thủ tướng cho khóa Đại hội 10 (2006-2011).

Trong tiến trình đấu đá nội bộ đó, tự nhiên ông Trương Tấn Sang được lợi. Tại Đại hội 10, ông Sang được giữ lại làm Ủy viên Bộ chính trị khóa nữa, và hơn nữa, lại được vào làm Thường trực Ban bí thư. Ông Sang ở giữa, chẳng vào phe nào, hơn nữa cái chức vụ Trưởng Ban kinh tế Trung ương cũng khó mà có thế lực để kéo bè kéo cánh. Thế cho nên ông Nông Đức Mạnh chọn ông Sang làm Phó cho mình. Tại Đại hội 10 năm 2006, ông Sang giữ vị trí số 5 trong Bộ chính trị. Trước đó, người tiền nhiệm của ông Sang là ông Phan Diễn, làm Thường trực Ban bí thư khóa 9, chỉ đứng số 7 trong Bộ chính trị.

Người giữ vị trí số 2 trong Bộ chính trị là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, ông Bộ trưởng Công an chiếm vị trí số 2 trong Bộ chính trị. Bình thường, vị trí trong Bộ chính trị là: số 1, Tổng bí thư. Số 2 là Chủ tịch nước. Số 3 là Thủ tướng. Số 4 là Chủ tịch Quốc hội. Sau đó là các vị trí khác, có thể thay đổi thứ tự.

Vào tháng 10 năm 2009, người ta thấy có sự thay đổi khá bất ngờ. Ông Sang từ vị trí số 5, nhảy vọt lên vị trí số 2 trong Bộ chính trị. Ông Nguyễn Văn Chi, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, quê Đà Nẵng, từ vị trí số 12, nhảy vọt lên vị trí số 3. Còn Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từ vị trí số 3 xuống số 4. Thủ tướng Dũng từ số 4 xuống số 5. Ông Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương, mới được vào Bộ chính trị tháng 1 năm 2009, nay nhảy lên vị trí số 11, trên ông Hồ Đức Việt số 12. Và ông Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh từ vị trí số 2, rơi xuống vị trí số 8.

Rất có thể vào Đại hội 11 năm 2011-2016, ông Trương Tấn Sang sẽ làm Tổng bí thư, và ông Nguyễn Văn Chi, sinh năm 1945, đại diện miền Trung, sẽ làm Chủ tịch nước. Khi đó Thủ tướng chắc chắn phải là người miền Bắc, có thể sẽ là ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, hoặc ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải. Thường trực Ban bí thư có thể là ông Tô Huy Rứa, hoặc ông Hồ Đức Việt.

Mọi dự đoán trên cũng chỉ là tương đối.

Rất có thể đến phút thứ 89, các ẩn số cuối cũng mới xuất hiện. Đại hội 11 tháng 1 năm 2011 chắc chắn sẽ có nhiều bất ngờ.
(ST)