Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013
HIẾN PHÁP TRUNG QUỐC -( Từ điều 1-55)
Năm vùng tự trị: Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây,
khu tự trị Nội Mông Cổ, khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, khu
tự trị dân tộc Duy ngô nhĩ Tân Cương, và khu tự trị Tây Tạng.
Bốn thành phố trực thuộc Trung ương: Bắc Kinh, Thiên
Tân, Thượng Hải, Trùng Khánh.
Ngoài ra, Trung Quốc có hai đặc khu hành chính là Hồng
Kông và Ma Cao.
9. Đảng chính trị: Trung Quốc có một đảng chính trị lớn
đang cầm quyền là Đảng cộng sản Trung Quốc. Ngoài ra còn
có một số đảng nhỏ khác.
10. Độ tuổi được tham gia bầu cử: Công dân nước Cộng
hoà nhân dân Trung Hoa đủ 18 tuổi không phân biệt dân tộc,
chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, thành phần gia đình, tín
ngưỡng tôn giáo, trình độ giáo dục, tình hình tài chính, giới hạn
cư trú đều có quyền bầu cử và ứng cử; trừ những người mà theo
quy định của pháp luật bị tước quyền chính trị.
11. Hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật Trung Quốc
phỏng theo hệ thống luật dân sự của Châu Âu. Dân luật Trung
Quốc là sự hỗn hợp giữa pháp luật của hệ thống dân luật và
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
12. Bộ máy nhà nước
i) Ngành lập pháp
Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa là cơ quan quyền lực cao nhất, có khoảng 3.000
thành viên với nhiệm kỳ 5 năm.
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc họp mỗi năm một kỳ
trong khoảng thời gian gần 2 tuần vào mùa xuân và thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như: 1) Sửa đổi Hiến pháp; 2)
Giám sát việc thực thi Hiến pháp, 3) Ban hành và sửa đổi các
đạo luật cơ bản về các lĩnh vực hình sự, dân sự và tổ chức bộ
máy nhà nước; 4) Bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo
Nhà nước; 5) Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, các
kế hoạch phát triển kinh tế, thành lập hoặc bãi bỏ các tỉnh, các
khu tự trị, các khu hành chính đặc biệt; 6) Giám sát hoạt động
của Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;
Quốc vụ viện, Hội đồng Quân ủy Trung ương, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời gian giữa các kỳ họp, Ủy ban thường vụ Đại
hội đại biểu nhân dân toàn quốc thực hiện một số chức năng,
nhiệm vụ của Đại hội. Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân
dân toàn quốc có 150 thành viên có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ
của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc.
ii) Ngành hành pháp
Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nguyên
thủ Quốc gia. Chủ tịch nước và Phó chủ tịch nước do Đại hội
đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm.
Quốc Vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa còn
gọi là chính phủ nhân dân trung ương là cơ quan hành pháp nhà
nước cao nhất, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Nhiệm
kỳ của Quốc vụ viện trùng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu nhân
dân toàn quốc. Thủ tướng lãnh đạo công tác Quốc Vụ viện. Thủ
tướng, Phó Thủ tướng, Uỷ viên Quốc vụ viện không giữ chức
vụ quá 2 nhiệm kỳ.
iii) Ngành tư pháp
Toà án nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là
cơ quan xét xử của nhà nước. Nước Cộng hoà nhân dân Trung
TUYỂN TẬP HIẾN PHÁPMỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
187
Hoa thành lập Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân các
cấp địa phương, các Toà chuyên môn và Toà quân sự.
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất trong
hệ thống tư pháp của Trung Quốc. Các thẩm phán của Tòa án
nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ
nhiệm. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan công tố cao
nhất của Trung Quốc. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ nhiệm.
II. HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN
TRUNG HOA
(Được thông qua ngày 04/02/1982, có hiệu lực từ 04/12/1982)
LỜI NÓI ĐẦU
Trung Quốc là một trong những quốc gia có lịch sử lâu
đời nhất trên thế giới. Nhân dân các dân tộc Trung Quốc đã
cùng nhau xây dựng nên một nền văn hoá huy hoàng, sán lạn,
với truyền thống cách mạng quang vinh.
Từ sau năm 1840, nước Trung Quốc phong kiến từng
bước trở thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Nhân dân
Trung Quốc tiếp bước thế hệ đi trước, anh dũng đấu tranh
giành độc lập, giải phóng dân tộc và tự do dân chủ.
Thế kỷ 20, Trung Quốc đã xảy ra sự thay đổi lịch sử long
trời lở đất.
Năm 1911, Tôn Trung Sơn lãnh đạo cách mạng Tân Hợi
lật đổ đế chế phong kiến, thành lập nước Trung Hoa dân quốc.
Nhưng nhiệm vụ lịch sử của nhân dân Trung Quốc đánh bại
chủ nghĩa đế quốc và phong kiến vẫn chưa hoàn thành.
Năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc do lãnh tụ Mao
Trạch Đông lãnh đạo nhân dân các dân tộc Trung Quốc tiến
hành đấu tranh vũ trang và các hình thức đấu tranh khác trong
cuộc trường chinh gian khổ, cuối cùng đã lật đổ sự thống trị
của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phong kiến và chủ nghĩa tư
bản quan liêu, giành thắng lợi vĩ đại cách mạng chủ nghĩa dân
chủ mới, thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Từ đó
nhân dân Trung Quốc nắm được quyền lực nhà nước, trở thành
chủ nhân quốc gia.
Sau khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa,
Trung Quốc từng bước thực hiện chủ nghĩa dân chủ mới quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Đã hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa
đối với chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, xoá bỏ chế độ người bóc
lột người, thành lập chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy cơ sở là
chuyên chính dân chủ nhân dân với nền tảng liên minh công
nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên thực tế, chuyên
chính giai cấp vô sản được củng cố và phát triển. Nhân dân
Trung Quốc và quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã đánh
thắng chủ nghĩa đế quốc, đánh thắng sự xâm lược của chủ
nghĩa bá quyền, chiến tranh phá hoại và vũ trang đẫm máu,
bảo vệ độc lập, an ninh quốc gia, tăng cường an ninh quốc
phòng. Về mặt kinh tế, đã giành được những thành tựu vô cùng
quan trọng, hình thành tương đối hoàn chỉnh hệ thống công
nghiệp XHCN, sản xuất nông nghiệp nâng cao rõ rệt. Các sự
nghiệp giáo dục, khoa học, văn hoá…phát triển mạnh mẽ. Việc
giáo dục tư tưởng XHCN giành được thành tựu rõ rệt. Đời sống
của phần lớn bộ phận dân cư được cải thiện đáng kể.
Sự thắng lợi của cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới
Trung Quốc và những thành tựu của sự nghiệp XHCN do Đảng
Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân các dân tộc Trung
Quốc dưới sự dẫn dắt của lý luận Mác- Lê nin, tư tưởng Mao
Trạch Đông kiên trì chân lý, sửa chữa sai lầm, gian khổ đấu
tranh và giành được thắng lợi. Từ nay về sau, nhiệm vụ căn
bản của nước ta là tập trung lực lượng tiến hành xây dựng hiện
đại hoá XHCN. Nhân dân các dân tộc Trung Quốc sẽ tiếp tục
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với sự chỉ đạo của chủ
nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Mao Trạch Đông kiên trì chuyên
chính dân chủ nhân dân, kiên trì con đường XHCN, kiên trì cải
cách đổi mới, không ngừng hoàn thiện các mặt của chế độ
XHCN, phát triển dân chủ XHCN, kiện toàn pháp chế XHCN,
tự lực cánh sinh, gian khổ phấn đấu, từng bước thực hiện hiện
đại hoá công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và khoa học kỹ
thuật, xây dựng đất nước ta thành một nước XHCN giàu mạnh,
dân chủ văn minh.
Ở nước ta, giai cấp bóc lột đã bị xoá bỏ, nhưng đấu tranh
giai cấp vẫn còn tồn tại trong một phạm vi và thời gian nhất
định. Nhân dân Trung Quốc vẫn cần tiến hành đấu tranh với
các thế lực phản động trong và ngoài nước, đấu tranh với phần
tử chống đối nhằm phá hoại chế độ XHCN ở nước ta.
Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Hoàn thành sự nghiệp thống
nhất tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng của nhân dân cả nước
Trung Quốc trong đó bao gồm đồng bào Đài Loan.
Sự nghiệp xây dựng XHCN phải dựa vào giai cấp công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức đoàn kết tất cả các lực
lượng có thể đoàn kết. Trong quá trình lâu dài của cách mạng
và xây dựng đã kết thành các đảng phái dân chủ và các đoàn
thể nhân dân tham gia, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh
đạo được toàn thể nhân dân lao động XHCN, người yêu nước
XHCN và chiến tuyến thống nhất của đông đảo người yêu nước
ủng hộ. Chiến tuyến thống nhất tiếp tục được củng cố và phát
triển. Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc là
tổ chức mặt trận yêu nước thống nhất rộng rãi, từng phát huy
tác dụng quan trọng trong lịch sử. Từ nay về sau, trong đời
sống chính trị cả nước, đời sống xã hội và trong các hoạt động
đối ngoại hoà bình, trong sự nghiệp tiến hành xây dựng hiện
đại hoá XHCN, trong đấu tranh thống nhất và đoàn kết bảo vệ
nhà nước, sẽ từng bước phát huy các tác dụng quan trọng khác.
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là quốc gia đa dân
tộc thống nhất, do cộng đồng các dân tộc trong cả nước tạo
nên, xác lập quan hệ dân tộc XHCN bình đẳng, đoàn kết tương
trợ lẫn nhau và quan hệ đó tiếp tục được tăng cường. Trong
quá trình đấu tranh bảo vệ đoàn kết dân tộc, phản đối chủ
nghĩa đại dân tộc, chủ yếu là chủ nghĩa dân tộc đại Hán, phản
đối chủ nghĩa dân tộc địa phương. Nhà nước cố gắng hết sức
để thúc đẩy sự phồn vinh giữa các dân tộc trên cả nước.
Thành tựu cách mạng và xây dựng Trung Quốc là không
tách rời khỏi sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới. Tương lai
của Trung Quốc có mối quan hệ mật thiết với tương lai của thế
giới. Trung Quốc kiên trì chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ,
kiên trì 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, tôn trọng chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, phát
triển quan hệ ngoại giao và kinh tế, giao lưu văn hoá với các
nước, kiên trì chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền,
chủ nghĩa thực dân, tăng cường đoàn kết nhân dân các nước
trên thế giới, ủng hộ nhân dân các nước đang phát triển và các
dân tộc bị áp bức trong sự nghiệp chính nghĩa, giành lấy và
bảo vệ nền độc lập, phát triển kinh tế dân tộc, nỗ lực để bảo vệ
hoà bình thế giới và thúc đẩy sự tiến bộ của loài người.
Bản hiến pháp này dùng hình thức pháp luật xác nhận
thành quả đấu tranh của nhân dân các dân tộc Trung Quốc.
quy định chế độ và nhiệm vụ căn bản của nhà nước, là luật cơ
bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Nhân dân các
dân tộc trong cả nước, tất cả các cơ quan nhà nước, lực lượng
vũ trang, các chính đảng và đoàn thể xã hội, các tổ chức sự
nghiệp, các doanh nghiệp đều phải lấy Hiến pháp làm tiêu
chuẩn xử sự căn bản trong hoạt động của mình và có trách
nhiệm trong việc bảo vệ sự tôn nghiêm của Hiến pháp, bảo đảm
Hiến pháp được thi hành.
CHƯƠNG I
NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1. Thể chế nhà nước
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là nhà nước xã hội
chủ nghĩa của chuyên chính dân chủ nhân dân, với nền tảng là
liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của nước Cộng
hoà nhân dân Trung Hoa. Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân
phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Điều 2. Chính thể nhà nước
Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện
là Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Đại hội Đại biểu
nhân dân các cấp địa phương.
Nhân dân dựa vào quy định pháp luật, thông qua cách
thức và hình thức quản lý công việc nhà nước, quản lý các
ngành kinh tế và văn hoá, quản lý công việc xã hội.
Điều 3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Các cơ quan nhà nước nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa được tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở nguyên tắc tập
trung dân chủ.
Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Đại hội Đại biểu
nhân dân các cấp đều chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự
giám sát của nhân dân.
Cơ quan hành chính, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát
đều do Đại hội Đại biểu nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm, và
chịu sự giám sát của cơ quan này.
Sự phân cấp chức năng, quyền hạn của cơ quan nhà nước
ở trung ương và địa phương phải tuân theo sự lãnh đạo thống
nhất từ trung ương dựa trên nguyên tắc phát huy đầy đủ tính
chủ động, tích cực của địa phương.
Điều 4. Chính sách dân tộc
Các dân tộc đang sinh sống trên đất nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa hoàn toàn bình đẳng. Nhà nước bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc thiểu số, bảo vệ và
phát triển sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các
dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị và áp bức dân tộc
thiểu số, nghiêm cấm hành vi phá hoại sự đoàn kết, gây chia
rẽ các dân tộc.
Nhà nước dựa vào đặc điểm và yêu cầu của các dân tộc
thiểu số, giúp đỡ các khu vực dân tộc thiểu số nhanh chóng
phát triển kinh tế và văn hoá.
Địa phương tập trung các dân tộc thiểu số sinh sống thực
hiện chế độ khu tự trị, xây dựng cơ quan tự trị, thi hành quyền
tự trị. Địa phương tự trị các dân tộc là bộ phận không thể tách
rời của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Các dân tộc đều có quyền tự do sử dụng và phát triển
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, có quyền tự do giữ gìn
hoặc thay đổi phong tục tập quán của mình.
Điều 5. Sự tôn nghiêm và thống nhất của pháp chế
Nhà nước bảo vệ sự thống nhất và tôn nghiêm của pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
Tất cả quy phạm pháp luật, văn bản pháp quy hành chính
và văn bản pháp quy mang tính địa phương đều không được
trái với hiến pháp.
Tất cả các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các
đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp, tổ
chức sự nghiệp đều phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật. Mọi
hành vi vi phạm hiến pháp và pháp luật, đều bị truy cứu.
Hành vi của mọi tổ chức hoặc cá nhân đều không được
vượt quá quy định của hiến pháp và pháp luật.
Điều 6. Chế độ công hữu và nguyên tắc phân phối
theo lao động
Cơ sở của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể quần
chúng lao động.
Chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa xoá bỏ chế độ người
bóc lột người, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng
theo lao động.
Điều 7. Kinh tế quốc doanh
Kinh tế quốc doanh là kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân
xã hội chủ nghĩa, là lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc
dân. Nhà nước bảo đảm sự ổn định và phát triển của kinh tế
quốc doanh.
Điều 8. Kinh tế tập thể
Công xã nhân dân nông thôn, hợp tác sản xuất nông
nghiệp và các hình thức hợp tác kinh tế khác như sản xuất, dịch
vụ, tín dụng, tiêu dùng, là chế độ kinh tế tập thể của quần chúng
lao động XHCN. Người lao động tham gia vào tổ chức kinh tế
tập thể nông thôn, có quyền kinh doanh trên đất phần trăm, diện
tích rừng phần trăm, nghề phụ gia đình, trồng trọt chăn nuôi
trong phạm vi quy định của pháp luật.
Các hình thức hợp tác kinh tế giữa các ngành công nghiệp
thủ công, công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, dịch
vụ…ở các thành phố thị trấn đều là kinh tế sở hữu tập thể quần
chúng lao động xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức
kinh tế tập thể ở thành phố, thị trấn, khuyến khích, chỉ đạo, và
giúp đỡ việc phát triển kinh tế tập thể.
Điều 9. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, nguồn nước,
rừng, đồi núi, thảo nguyên, đất hoang, đầm lầy…đều thuộc sở
hữu nhà nước, sở hữu toàn dân. Ngoài ra, các tài nguyên rừng,
đồi núi, đồng cỏ, đất hoang do pháp luật quy định thuộc sở hữu
tập thể.
Nhà nước bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên,
bảo vệ động, thực vật quý hiếm. Nghiêm cấm mọi tổ chức hoặc
cá nhân dùng bất cứ thủ đoạn nào chiếm đoạt hoặc phá hoại tài
nguyên thiên nhiên.
Điều 10. Chế độ đất đai
Đất đai ở thành phố thuộc sở hữu nhà nước.
Đất đai ở nông thôn, ngoại ô thành phố, ngoài do pháp
luật quy định thuộc sở hữu nhà nước, thì thuộc sở hữu tập thể,
đất ở, đất phần trăm, diện tích đất đồi núi phần trăm đều thuộc
sở hữu tập thể.
Nhà nước căn cứ vào nhu cầu lợi ích công cộng, có thể
tiến hành trưng dụng đất đai theo quy định của pháp luật.
Mọi tổ chức hoặc cá nhân không được chiếm đoạt, mua
bán, cho thuê hoặc chuyển nhượng đất đai dưới các hình thức
trái quy định pháp luật.
Mọi tổ chức và cá nhân phải sử dụng đất đai hợp lý.
Điều 11. Kinh tế phi công hữu
Kinh tế cá thể của người lao động thành phố thị trấn trong
phạm vi quy định của pháp luật là sự bổ sung của kinh tế công
hữu xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của kinh tế cá thể.
Nhà nước quản lý hành chính, chỉ đạo, giúp đỡ và giám
sát kinh tế cá thể.
Điều 12. Nguyên tắc không xâm phạm tài sản
công cộng
Tuyệt đối không xâm phạm tài sản công hữu thiêng liêng
xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước bảo vệ tài sản công xã hội chủ nghĩa. Nghiêm
cấm mọi tổ chức hoặc cá nhân dùng bất cứ thủ đoạn nào chiếm
đoạt hoặc phá hoại tài sản nhà nước và tập thể.
Điều 13. Bảo vệ tài sản thuộc sở hữu tư nhân
Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu nhà cửa và các tài sản được
hình thành từ nguồn thu nhập và tích lũy hợp pháp của công dân.
Nhà nước dựa vào các quy định của pháp luật, bảo vệ
quyền thừa kế tư nhân về tài sản công dân.
Điều 14. Chế độ sản xuất, tích luỹ và tiêu dùng
Nhà nước thông qua việc nâng cao tính tích cực và trình
độ kỹ thuật của người lao động, đẩy mạnh khoa học kỹ thuật
tiên tiến, hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế và chế độ quản lý
kinh doanh của doanh nghiệp, thực hiện các hình thức chế độ
trách nhiệm xã hội chủ nghĩa, cải tiến tổ chức lao động, không
ngừng nâng cao sức sản xuất và hiệu quả kinh tế, phát triển sức
sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí.
Nhà nước thực hiện hợp lý việc tích luỹ và tiêu dùng, chú
ý toàn diện đến lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể và lợi ích cá
nhân, trên cơ sở phát triển sức sản xuất, từng bước cải thiện đời
sống vật chất và đời sống văn hoá của nhân dân.
Điều 15. Kinh tế kế hoạch
Nhà nước thực hiện kinh tế kế hoạch trên cơ sở công hữu
xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thông qua cân bằng tổng hợp kinh
tế kế hoạch và tác dụng bổ trợ của điều tiết thị trường, bảo đảm
phát triển hài hoà kinh tế quốc dân.
Nghiêm cấm tất cả các tổ chức hoặc cá nhân làm xáo trộn
trật tự xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế nhà nước.
Điều 16. Doanh nghiệp quốc doanh
Doanh nghiệp quốc doanh phục tùng sự lãnh đạo thống nhất
của nhà nước và hoàn thành kế hoạch của nhà nước, có quyền tự
chủ trong quản lý kinh doanh trong phạm vi quy định pháp luật.
Doanh nghiệp quốc doanh trên cơ sở quy định pháp luật,
thực hiện quản lý dân chủ thông qua Đại hội Đại biểu công
nhân viên chức và các hình thức khác.
Điều 17. Doanh nghiệp tập thể
Tổ chức kinh tế tập thể chịu sự chỉ đạo của kế hoạch nhà
nước và tuân thủ pháp luật có liên quan, có quyền độc lập, tự
chủ tiến hành các hoạt động kinh tế.
Theo quy định của pháp luật, tổ chức kinh tế tập thể quản
lý người lao động dựa trên nguyên tắc dân chủ; người lao động
có quyền bầu hoặc bãi miễn người quản lý, quyết định những
vấn đề quan trọng trong hoạt động quản lý kinh doanh.
Điều 18. Đầu tư nước ngoài
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cho phép doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư tại
Trung Quốc, hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc hoặc
với các tổ chức kinh tế khác tiến hành các hình thức hợp tác
kinh tế theo quy định của pháp luật nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa.
Tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc
doanh nghiệp liên doanh đều phải tuân thủ pháp luật nước Cộng
hoà nhân dân Trung Hoa. Tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp
của doanh nghiệp đều được pháp luật nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa bảo vệ.
Điều 19. Sự nghiệp giáo dục
Nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa,
nâng cao trình độ văn hoá, khoa học toàn dân.
Nhà nước thành lập các trường học, phổ cập giáo dục cấp
tiểu học, phát triển giáo dục cấp trung học cơ sở, giáo dục dạy
nghề và giáo dục phổ thông trung học, đồng thời phát triển giáo
dục mầm non.
Nhà nước thực hiện phát triển các loại hình giáo dục, xoá
mù chữ, tiến hành giáo dục chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ
thuật, nghiệp vụ đối với công nhân, nông dân, công nhân viên
chức nhà nước, và người lao động khác, khuyến khích nhân tài
tự học.
Nhà nước khuyến khích tổ chức kinh tế tập thể, tổ
chức đơn vị sự nghiệp nhà nước và các lực lượng xã hội
khác xây dựng các loại hình giáo dục đào tạo theo quy định
của pháp luật.
Nhà nước đẩy mạnh sử dụng phổ biến tiếng phổ thông
trong phạm vi cả nước.
Điều 20. Sự nghiệp khoa học
Nhà nước phát triển khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội, phổ cập tri thức khoa học và kỹ thuật, khuyến khích các
thành quả nghiên cứu khoa học và sáng tạo phát minh kỹ thuật.
Điều 21. Sự nghiệp vệ sinh, y tế và giáo dục thể chất
Nhà nước phát triển sự nghiệp vệ sinh y tế, phát triển
ngành y tế hiện đại và y học truyền thống, khuyến khích và ủng
hộ các tổ chức kinh tế tập thể nông thôn, đơn vị kinh tế, sự
nghiệp nhà nước và các tổ chức dân phố (xã, phường) xây dựng
cơ sở vệ sinh, y tế, triển khai hoạt động vệ sinh mang tính quần
chúng, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục thể chất, triển
khai hoạt động thể chất quần chúng, tăng cường thể chất
người dân.
Điều 22. Sự nghiệp văn hoá
Nhà nước phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, phát
thanh truyền hình, xuất bản, phát hành, bảo tàng văn hoá, thư
viện và các sự nghiệp văn hoá khác phục vụ quần chúng nhân
dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội, triển khai hoạt động văn hoá
mang tính quần chúng.
Nhà nước bảo vệ di tích lịch sử, di sản văn hoá quý giá
và các di sản văn hoá lịch sử quan trọng khác.
Điều 23. Tầng lớp trí thức
Nhà nước bồi dưỡng nhân tài, nhân viên chuyên nghiệp
trên mọi lĩnh vực, đội ngũ tri thức, tạo điều kiện để phát huy
mạnh mẽ tác dụng của họ trong sự nghiệp hiện đại hoá xã hội
chủ nghĩa, phục vụ chủ nghĩa xã hội.
Điều 24. Xây dựng văn minh tinh thần
Nhà nước chú trọng phổ cập, giáo dục lý tưởng, giáo dục
đạo đức, giáo dục văn hoá, kỷ luật và giáo dục pháp chế, thông
qua việc ban hành và chấp hành các quy tắc xử sự trong quần
chúng ở phạm vi các thành phố, thị trấn, góp phần xây dựng văn
minh tinh thần xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước nêu cao truyền thống yêu nước, dân tộc, yêu
lao động, yêu khoa học, yêu chủ nghĩa xã hội, triển khai giáo
dục sâu rộng trong nhân dân chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập
thể và chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa cộng sản, tiến hành giáo
dục chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng,
phản đối chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa phong kiến và tư tưởng
lạc hậu khác.
Điều 25. Sinh đẻ kế hoạch
Nhà nước áp dụng sinh đẻ kế hoạch, điều chỉnh sự tăng
trưởng dân số phù hợp với sự phát triển xã hội và kinh tế.
Điều 26. Đời sống, môi trường sinh thái
Nhà nước bảo vệ và cải thiện cuộc sống và môi trường
sống, phòng chống ô nhiễm và các hoạt động công ích khác.
Nhà nước tổ chức và động viên việc trồng cây gây rừng,
bảo vệ rừng.
Điều 27. Chế độ cơ quan nhà nước và cán bộ viên
chức
Tất cả các cơ quan nhà nước trên nguyên tắc tinh giản,
thực hiện chế độ công tác trách nhiệm, thực hiện bồi dưỡng và
thi sát hạch đối với cán bộ viên chức công tác trong bộ máy
nhà nước, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác, chống chủ nghĩa quan liêu.
Tất cả các cơ quan nhà nước và cán bộ công nhân viên
chức nhà nước phải dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, thường
xuyên bảo đảm mối liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe
ý kiến và kiến nghị của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân
và nỗ lực phục vụ nhân dân.
Điều 28. Bảo vệ trật tự xã hội
Nhà nước bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa, trấn áp các hoạt
động phản quốc và các hoạt động phản cách mạng khác, xử lý
các hoạt động làm nguy hại đến trật tự trị an, phá hoại kinh tế
xã hội chủ nghĩa, và các hoạt động tội phạm khác, trừng trị và
cải tạo các phần tử phạm tội.
Điều 29. Lực lượng vũ trang
Lực lượng vũ trang nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
thuộc về nhân dân, với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, chống
xâm lược, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân yêu chuộng hoà
bình, tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước, nỗ lực phục
vụ nhân dân.
Nhà nước tăng cường xây dựng cách mạng hoá, hiện đại
hoá, chính quy hoá lực lượng vũ trang, tăng cường lực lượng
quốc phòng.
Điều 30. Khu vực hành chính
Các khu vực hành chính nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa được phân định như sau:
1. Cả nước phân thành Tỉnh, Khu tự trị, Thành phố trực
thuộc.
2. Tỉnh, Khu tự trị phân thành Châu tự trị, Huyện, Huyện
tự trị, Thành phố.
3. Huyện, Huyện tự trị phân thành Hương, Hương dân
tộc, Trấn.
Thành phố trực thuộc và thành phố tương đối lớn phân
thành Khu và Huyện. Châu tự trị phân thành Huyện, Huyện tự
trị, Thành phố.
Khu tự trị, Châu tự trị, Huyện tự trị đều là tự trị dân tộc
địa phương.
Điều 31. Khu vực hành chính đặc biệt
Nhà nước trong trường hợp cần thiết có thể thành lập khu
hành chính đặc biệt. Trong khu hành chính đặc biệt thi hành
chế độ căn cứ theo tình hình cụ thể do Đại hội Đại biểu nhân
dân toàn quốc quy định theo pháp luật.
Điều 32. Chính sách bảo vệ đối với người nước ngoài
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người nước ngoài trong phạm vi biên giới
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, người nước ngoài trong
lãnh thổ Trung Quốc phải tuân thủ pháp luật nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa.
Người nước ngoài vì lý do chính trị có yêu cầu nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cho cư trú, có thể được nhà nước
bảo vệ quyền lợi.
CHƯƠNG 2
QUYỀN VÀ NGHĨAVỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 33. Quyền công dân
Tất cả những người có quốc tịch nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa đều là công dân nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa.
Mọi công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đều
bình đẳng trước pháp luật.
Tất cả quyền lợi của công dân được Hiến pháp và pháp
luật quy định, đồng thời Hiến pháp và pháp luật quy định nghĩa
vụ của công dân.
Điều 34. Quyền bầu cử và quyền ứng cử
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đủ 18 tuổi
không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp,
thành phần gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ giáo dục,
tình hình tài chính, giới hạn cư trú đều có quyền bầu cử và ứng
cử; trừ những người mà theo quy định của pháp luật bị tước
quyền chính trị.
Điều 35. Quyền tự do chính trị cơ bản
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
tự do ngôn luận, xuất bản, lập hội, tham gia tổ chức đoàn thể,
đi lại, biểu tình.
Điều 36. Quyền tự do tín ngưỡng
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân
không được cưỡng chế công dân đi theo tôn giáo hoặc từ bỏ
tôn giáo, không được phân biệt, kỳ thị người có tôn giáo và
người không tôn giáo.
Nhà nước bảo đảm hoạt động tôn giáo bình thường.
Nghiêm cấm bất kỳ người nào lợi dụng hoạt động tôn giáo để
phá hoại trật tự xã hội, tổn hại đến sức khoẻ của công dân, làm
ảnh hưởng các chế độ giáo dục của nhà nước.
Đoàn thể tôn giáo và sự nghiệp tôn giáo không chịu sự
chi phối của thế lực bên ngoài.
Điều 37. Quyền tự do thân thể
Quyền tự do thân thể của công dân nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa là bất khả xâm phạm.
Tất cả mọi công dân, trừ những người do Viện kiểm sát
nhân dân phê chuẩn hoặc quyết định hoặc những người do Toà
án nhân dân quyết định, và do cơ quan công an thi hành, đều
không bị bắt giữ.
Nghiêm cấm các hành vi giam giữ, bắt bớ trái pháp luật
hoặc hạn chế tự do thân thể công dân, nghiêm cấm việc xâm
phạm thân thể công dân một cách bất hợp pháp.
Điều 38. Tôn trọng và bảo vệ danh dự
Danh dự của công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa được tôn trọng và không bị xâm hại, nghiêm cấm việc làm
nhục, xúc phạm, vu cáo, bức hại công dân dưới bất kỳ hình
thức nào.
Điều 39. Quyền bất khả xâm phạm nơi ở
Nơi ở của công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
không bị xâm phạm. Nghiêm cấm các hành vi khám xét hoặc
đột nhập một cách bất hợp pháp nơi ở của công dân.
Điều 40. Quyền tự do thư tín và bảo mật thư tín
Quyền tự do thư tín và bảo mật thư tín của công dân nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được pháp luật bảo vệ. Trừ
trường hợp vì lý do an ninh quốc gia hoặc do yêu cầu của việc
bắt giữ tội phạm hình sự, do cơ quan công an hoặc cơ quan
kiểm sát tiến hành kiểm tra căn cứ theo trình tự quy định của
pháp luật, nghiêm cấm bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào, vì bất
cứ lý do gì xâm phạm quyền tự do thư tín hoặc quyền bảo mật
thư tín của công dân.
Điều 41. Quyền giámsát của công dân đối với cơ quan
nhà nước
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
phê bình và kiến nghị đối với bất kỳ cơ quan nhà nước hoặc
nhân viên của cơ quan nhà nước; công dân có quyền khiếu nại,
tố cáo hoặc tố giác đối với bất kỳ hành vi không làm tròn trách
nhiệm, trái pháp luật của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên cơ
quan nhà nước, nhưng không được phép bịa đặt hoặc bẻ cong
sự thật để vu cáo hãm hại.
Đối với khiếu nại, khiếu tố hoặc tố giác của công dân, cơ
quan có liên quan phải điều tra rõ sự việc, có trách nhiệm xử lý.
Nghiêm cấm mọi hành vi khống chế, đả kích, báo thù.
Những người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước hoặc người
công tác trong cơ quan nhà nước gây ra có quyền đòi bồi
thường theo các quy định pháp luật.
Điều 42. Quyền và nghĩa vụ lao động
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
và nghĩa vụ về lao động.
Nhà nước thông qua nhiều hình thức tạo điều kiện về việc
làm, tăng cường bảo đảm việc làm, cải tạo điều kiện lao động,
và trên cơ sở phát triển sức sản xuất nâng cao thu nhập của
người lao động và phúc lợi đãi ngộ.
Lao động là trách nhiệm vinh quang của tất cả công dân
có đầy đủ năng lực lao động. Người lao động ở trong doanh
nghiệp quốc doanh và tổ chức kinh tế tập thể ở thành phố thị
trấn đều phải có thái độ của người làm chủ quốc gia đối với
lao động của chính mình. Nhà nước phát động thi đua, khen
thưởng các điển hình lao động và các cá nhân lao động tiên
tiến XHCN. Nhà nước phát động nghĩa vụ lao động việc làm
đối với công dân.
Nhà nước bồi dưỡng, giáo dục dạy nghề cần thiết trước
khi công dân tìm việc làm.
Điều 43. Quyền nghỉ ngơi của người lao động
Người lao động là công dân nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa có quyền nghỉ ngơi.
Nhà nước phát triển các biện pháp nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng,
quy định chế độ thời gian làm việc và nghỉ ngơi của công nhân
viên chức.
Điều 44. Chế độ hưu trí
Nhà nước căn cứ theo quy định của pháp luật thực hiện
chế độ hưu trí đối với cán bộ công nhân viên chức làm việc tại
cơ quan nhà nước và tổ chức đơn vị sự nghiệp. Cuộc sống của
người nghỉ hưu được nhà nước và xã hội bảo đảm.
Điều 45. Quyền được trợ cấp khó khăn
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa nếu rơi
vào tình trạng già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động, có
quyền nhận được sự giúp đỡ vật chất của nhà nước và xã hội.
Nhà nước phát triển bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội, và sự
nghiệp y tế nhằm phục vụ quyền lợi của công dân.
Nhà nước và xã hội bảo đảm đời sống cho thương binh,
gia đình anh hùng liệt sỹ, ưu đãi gia đình quân nhân.
Nhà nước và xã hội giúp đỡ, sắp xếp lao động, ổn định
cuộc sống, giáo dục cho những công dân tàn tật như mù, điếc,
câm và những công dân tàn tật khác.
Điều 46. Quyền và nghĩa vụ giáo dục
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
và nghĩa vụ được giáo dục.
Nhà nước tạo điều kiện để thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng phát triển toàn diện về các mặt: đạo đức, trí lực, thể chất.
Điều 47. Tự do hoạt động văn hoá
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
tự do trong việc tiến hành nghiên cứu khoa học, sáng tạo văn
học nghệ thuật và các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong sự
nghiệp giáo dục, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật và sự
nghiệp văn hoá khác.
Điều 48. Nguyên tắc bình đẳng nam nữ
Phụ nữ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có quyền
bình đẳng với nam giới trên các phương diện chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội và đời sống gia đình.
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ, thực hiện
trả lương bình đẳng giữa nam và nữ, bồi dưỡng và đề bạt cán
bộ nữ.
Điều 49. Chế độ hôn nhân, gia đình
Hôn nhân, gia đình, bà mẹ và trẻ em được nhà nước bảo
vệ.
Hai bên vợ và chồng phải thực hiện nghĩa vụ kế hoạch
hoá gia đình.
Cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục trẻ vị thành niên,
người thành niên có nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ.
Nghiêm cấm hành vi phá hoại tự do hôn nhân, ngược đãi
người già, phụ nữ và trẻ em.
Điều 50. Bảo đảm quyền lợi của Hoa kiều, người
Trung Quốc về nước
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của Hoa kiều, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của kiều bào và Hoa kiều.
Điều 51. Hạn chế quyền tự do và quyền lợi công dân
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa khi thực
hiện quyền tự do và quyền lợi của mình không được xâm hại
đến tự do và quyền lợi hợp pháp của nhà nước, xã hội, tập thể
và công dân khác.
Điều 52. Nghĩa vụ thống nhất tổ quốc và đoàn kết
dân tộc
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có
nghĩa vụ bảo vệ sự thống nhất Tổ quốc và đoàn kết các dân
tộc trong nước.
Điều 53. Nghĩa vụ tôn trọng pháp luật
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa phải tôn
trọng Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ bí mật quốc gia, giữ gìn
tài sản công cộng, tuân thủ kỷ luật lao động, tuân thủ trật tự
công cộng, tôn trọng đạo đức xã hội.
Điều 54. Nghĩa vụ bảo vệ an toàn, danh dự, lợi ích của
nhà nước
Công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có nghĩa
vụ bảo vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia, không được
có hành vi xâm hại đến sự an toàn, danh dự và lợi ích của nhà
nước.
Điều 55. Nghĩa vụ bảo vệ nhà nước và nghĩa vụ
quân sự
Bảo vệ tổ quốc, chống chiến tranh xâm lược là trách
nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa.
Thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia tổ chức dân quân
theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ vinh quang của mỗi
công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013
TP ĐÀ NẴNG PHẢN PHÁO THANH TRA !
TOÀN VĂN PHẢN HỒI CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÀ NẴNG VỀ KẾT LUẬN CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ
Ngày 17/1 sau khi Bí thư Đà Nẵng – ông Nguyễn Bá Thanh – vừa ra nhận chức Trưởng ban Nội chính TW, Thanh tra Chính phủ công bố kết luận động trời: chính quyền Đà Nẵng gần 10 năm làm thất thoát trên 3.400 tỉ đồng (bằng 3% vụ Vinasin). Ngay sau đó, ngày 19/1 UBND thành phố Đà Nẵng có thông báo số 12/TB-UBND phản hồi kết luận của Thanh tra Chính phủ, khẳng định: “kết luận gây thất thu ngân sách 3.434.254.712.950 đồng là không có cơ sở, thiếu tính thuyết phục”. Dưới đây là toàn văn thông báo này.
I. Về việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Tất cả các dự án mà Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra được thành phố tổ chức triển khai thực hiện theo đúng quy hoạch sử dụng đất được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 503/QĐ-TTg ngày 31.5.2000, Quyết định số 465/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2002, Nghị quyết số 11/2006/NQ-CP ngày 26.5.2006, Nghị quyết số 41/2007/NQ-CP ngày 31.7.2007; được UBND thành phố ban hành kế hoạch sử dụng đất hằng năm.
Quy hoạch tổng thể của thành phố Đà Nẵng có sự tham gia của các tổ chức tư vấn thiết kế trong và ngoài nước có kinh nghiệm, góp phần tham gia xây dựng quy hoạch của Đà Nẵng rộng hơn, đồng thời đón đầu xu thế phát triển. Đà Nẵng đã có một quy hoạch đi trước một bước, cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ nên đã được các nhà đầu tư xem Đà Nẵng là điểm đến hấp dẫn…. Thực tế như vậy, thành phố có rất nhiều dự án đã, đang triển khai và đưa vào sử dụng… nên đô thị thành phố ngày càng khang trang, hiện đại như ngày hôm nay. Đi cùng với công tác quy hoạch, thành phố tập trung giải phóng mặt bằng trên diện rộng để tạo ra thật nhiều quỹ đất tái định cư bố trí cho nhân dân vùng giải tỏa có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ (cách làm này tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân đối với chủ trương của thành phố). Quỹ đất còn lại theo quy hoạch, thành phố đã, đang và sẽ tiếp tục mời gọi đầu tư, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định nhằm tạo nguồn thu để chi cho đầu tư phát triển. Với nguồn quỹ đất dồi dào đã tạo ra giá đất phù hợp, nhân dân được hưởng lợi các mặt về an sinh xã hội, các nhà đầu tư có điều kiện tiếp cận để đầu tư dự án có tính khả thi.
Tuy nhiên, do tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn nên một số dự án chưa triển khai. Thành phố sẽ đôn đốc các nhà đầu tư sớm triển khai dự án.
Vì vậy, việc Thanh tra Chính phủ kết luận “công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thiếu căn cứ, cơ sở, chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu thực tế của địa phương. Tình trạng đất đai sau khi được san lấp, giải tỏa, chuyển quyền sử dụng đất, thuê đất để hoang hóa lớn, ít dự án đầu tư được thực hiện” là không có cơ sở.
II. Về đấu giá và giao quyền sử dụng đất:
UBND thành phố Đà Nẵng khẳng định tất cả các trường hợp giao đất cho các tổ chức, cá nhân đều được công khai đấu giá và giao quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm, cụ thể là:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Quyết định 216/2005/QĐ-TTG ngày 31/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ về đấu giá quyền sử dụng đất;
Việc đấu giá quyền sử dụng đất được các đơn vị công khai trên báo chí, đảm bảo đúng thời gian và các tiêu chí theo quy định: Địa điểm xây dựng, các chỉ tiêu kiến trúc quy hoạch, diện tích, đơn giá, mục đích sử dụng đất, thời gian, địa điểm đăng ký… để các nhà đầu tư có thông tin đăng ký đấu giá.
Vì vậy, việc Thanh tra Chính phủ kết luận: “Việc đấu giá quyền sử dụng đất trong những năm qua, UBND thành phố Đà Nẵng triển khai không tốt, từ khâu ban hành quy chế đấu giá đến tổ chức thực hiện không tuân thủ quy định của Luật Đất đai và Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ các phiên đấu giá thành công quá thấp, chưa tạo được thị trường bình đẳng, khách quan khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm thu cho ngân sách nhà nước có hiệu quả… Tình trạng giao đất không thông qua đấu giá còn phổ biến dẫn đến việc xác định giá thu tiền sử dụng đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường, tạo điều kiện để một số nhà đầu tư đầu cơ, thu lợi” là không có cơ sở.
III. Việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Thực hiện chương trình cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, tổ chức và công dân trong việc liên hệ với cơ quan nhà nước khi làm thủ tục nhận đất, nộp tiền sử dụng đất… theo chủ trương của UBND thành phố, đồng thời căn cứ vào thực tiễn của địa phương (việc đền bù, giải tỏa thực hiện trên diện rộng nên áp lực về giải quyết bồi thường thiệt hại, tái định cư, quản lý nguồn thu từ đất là rất lớn) nên sau khi có chủ trương giao đất cụ thể bằng văn bản của UBND thành phố, thành phố đã giao các đơn vị ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất. Chủ trương này đã thực hiện trong nhiều năm qua và đạt được nhiều hiệu quả trong quản lý nhà nước về đất đai (giao đất, quản lý thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai, trách nhiệm giữa Nhà nước và tổ chức, cá nhân được giao đất), mang lại hiệu quả về mặt xã hội rất lớn và giữ vững môi trường đầu tư, đó là: Các đơn vị này thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết theo quy định. Các tổ chức, cá nhân chỉ liên hệ đến 1 đơn vị để làm thủ tục từ việc giải tỏa, bồi thường thiệt hại, bàn giao đất, nộp tiền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Các đơn vị này có chức năng hoạt động như tổ một cửa theo quy trình cải cách thủ tục hành chính hiện hành của thành phố khi giải quyết công việc của nhân dân, tổ chức.
Tất cả các trường hợp được giao đất, người được giao quyền sử dụng đất đều phải nộp đủ tiền 100%, thiếu 1 đồng cũng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Vấn đề này không thuộc quyền hạn và trách nhiệm của UBND thành phố.
Cách làm này của thành phố xuất phát từ nhu cầu khách quan, thực tiễn của địa phương, trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với nhân dân, chương trình cải cách thủ tục hành chính và đã phát huy hiệu quả, góp phần rất lớn cho sự thành công của công tác bồi thường, giải tỏa, tái định cư, thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, tạo sự đồng thuận rất lớn trong nhân dân, giữ vững được môi trường đầu tư (đây là yếu tố quan trọng trong việc Đà Nẵng xếp hạng cao 3 năm thứ nhì, 3 năm dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và Đà Nẵng dẫn đầu cả nước về thủ tục hành chính công theo đánh giá của Bộ Nội vụ công bố tháng 5 năm 2012).
Vì vậy, việc Thanh tra Chính phủ kết luận: “Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phát sinh nhiều sai phạm như: Không đủ căn cứ, cơ sở để xác định giá thu tiền sử dụng đất; việc phê duyệt và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tùy tiện; nhiều nhà đầu tư sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã không thực hiện đầu tư, tiếp tục chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác thu chênh lệch số tiền rất lớn… làm thất thu ngân sách nhà nước, gây thiệt hại lớn về kinh tế” là không có cơ sở.
IV. Về Thanh tra Chính phủ kết luận gây thất thoát đối với 6 dự án:
Thanh tra Chính phủ thanh tra 46 dự án, trong đó có một số dự án, Thanh tra Chính phủ lấy giá đất của Hội đồng thẩm định giá đất thành phố làm căn cứ chính rồi so với giá đất mà UBND thành phố quyết định có sự chênh lệch, đồng thời không tính mật độ xây dựng khi xác định giá đất để kết luận gây thất thoát là không có cơ sở.
Theo quy định, việc phê duyệt giá đất để thu tiền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của UBND thành phố. Hội đồng thẩm định giá đất thành phố do UBND thành phố thành lập gồm đại diện Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Cục thuế thành phố, Văn phòng UBND thành phố chỉ là bộ phận tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo UBND thành phố trong việc xem xét và quyết định giá đất.
Chính vì điều này nên việc đồng ý giảm, tăng hoặc giữ nguyên giá đất theo đề nghị Hội đồng Thẩm định giá đất thành phố là việc làm bình thường và đúng thẩm quyền của UBND thành phố.
Giá đất cụ thể được UBND thành phố xác định phù hợp với từng vị trí, địa điểm quy hoạch, điều kiện cơ sở hạ tầng, tính các hệ số theo quy định như: hệ số che khuất, hệ số ngã ba, ngã tư, hệ số ba mặt tiền trở lên,…; phân vệt chiều sâu lô đất, giá đất thị trường ở vị trí đó tại thời điểm và các lô đất đều được đưa ra đấu giá công khai. Việc xác định giá các lô đất lớn phải tính đến mật độ xây dựng thường từ 60% đến 70% so với diện tích khu đất. Thực tế cho thấy có những lô có chiều sâu hàng trăm mét, có diện tích từ vài hecta đến hàng chục hecta. Khi áp dụng phương pháp xác định giá đất theo Chính phủ quy định, Bộ Tài chính hướng dẫn thì giá đất có thể thấp hơn bảng giá do UBND thành phố quy định. Điều này là đương nhiên vì bảng giá do UBND thành phố quy định cho các lô đất nhỏ có diện tích khoảng 100m2, mật độ xây dựng 100%, có cơ sở hạ tầng đầy đủ.
Vấn đề này, Bộ Tài chính đã có ý kiến tại Điểm 1 và Điểm 3 Công văn số 11021/BTC-QLCS ngày 16/8/2012, cụ thể như sau:
- “Việc Hội đồng liên ngành thẩm định giá đất tỉnh, thành phố căn cứ vào bảng giá đất hằng năm và các phương pháp xác định giá theo quy định của pháp luật (Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn) thực hiện xác định giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất, trình UBND cấp tỉnh quyết định là đúng quy định về thẩm quyền quyết định giá đất tính thu tiền sử dụng đất.”.
- “Mật độ xây dựng theo quy hoạch xây dựng chi tiết đã được duyệt chỉ là một trong các căn cứ để xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất”.
Riêng về vấn đề này, Ủy ban kiểm tra Trung ương cũng đã có kết luận hết sức cụ thể tại Mục 4 Kết luận số 94 ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng:
“Việc bán khu đất 18.000m2 cuối tuyến đường Phạm Văn Đồng, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, khu Thương xá Vĩnh Trung, khu đất số 8 Phan Chu Trinh, khu đất tứ giác Phạm Hồng Thái – Nguyễn Chí Thanh – Nguyễn Thái Học – Yên Báy, khu đất bán cho ông Nguyễn Hữu Sinh, bán cho ông Nguyễn Hữu Bình, cho Công ty TNHH Đức Mạnh, bán cho Công ty TNHH Cafe Trung Nguyên, Công ty An Cư Đông Á. Qua xem xét Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng nhận thấy việc bán các khu đất trên là có chủ trương của tập thể UBND thành phố Đà Nẵng thực hiện theo mục đích thương mại du lịch, không phải giá nhà ở, mật độ xây dựng nhà cao tầng từ 50% – 60% diện tích khu đất. Đất còn lại phục vụ công cộng. Vì vậy, không thể so sánh giữa giá đất làm dịch vụ theo đúng quy hoạch của thành phố với giá đất bán nền hoặc giá đất ở mặt tiền các đường phố chính.”
* Cụ thể ở từng dự án:
1. Dự án của Công ty Phúc Thiên Long:
Trên cơ sở đề xuất của Hội đồng thẩm định giá đất thành phố, UBND thành phố đã phê duyệt với giá khởi điểm đấu giá lô đất là 2.570.000đồng/m2.
Sau khi công khai đấu giá theo đúng quy định của pháp luật nhưng hết thời hạn nêu trên vẫn không có tổ chức, cá nhân nào tham gia đấu giá và chỉ có Công ty Phúc Thiên Long xin nhận quyền sử dụng đất. Lãnh đạo UBND thành phố thống nhất chủ trương giao đất cho Công ty Phúc Thiên Long là phù hợp với quy định tại Điểm d Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 181/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Về đơn giá giao quyền sử dụng đất đối với Công ty Phúc Thiên Long, UBND thành phố thống nhất phê duyệt giá đất giao quyền sử dụng đất theo đúng đề xuất của Hội đồng thẩm định giá đất thành phố với đơn giá là 3.030.000đồng/m2 (cao hơn đơn giá phê duyệt để đấu giá là 1,2 lần). Việc phê duyệt đơn giá đất 3.030.000đồng/m2là đúng thẩm quyền của UBND thành phố, phù hợp với giá thị trường tại thời điểm.
Về việc không xác định lại giá đất và cho phép cho Công ty Phúc Thiên Long gia hạn nộp tiền sử dụng đất là vì:
- Sau khi ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho Công ty Phúc Thiên Long, tình hình bất động sản cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng giảm sút và đóng băng, đồng thời các ngân hàng đồng loạt không cho vay vốn để đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, do đó vấn đề tài chính của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.
- Khu đất này có nguồn gốc là đất quốc phòng nên quá trình làm thủ tục chuyển từ đất quốc phòng sang đất phát triển kinh tế xã hội có kéo dài, đồng thời hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại khu vực chưa được đầu tư đồng bộ vì vướng đất quốc phòng dẫn đến Thành phố chưa thể bàn giao toàn bộ mặt bằng dự án cho chủ đầu tư để triển khai dự án.
- Từ tháng 12/2007 đến tháng 9/2009 (từ thời điểm quyết định giá đất đến thời điểm Công ty nộp đủ tiền sử dụng đất), Bảng giá đất năm 2008 và 2009 ở thành phố Đà Nẵng không thay đổi; Thị trường bất động sản giảm sút và đóng băng, lạm phát kéo dài. Thời điểm này bão số 6 vừa đổ bộ vào thành phố Đà Nẵng đã tàn phá nhiều nhà cửa, công trình khu vực ven biển đã gây nên tâm lý e ngại đầu tư vào khu vực ven biển. Vì vậy giá đất khu vực ven biển thời gian này giảm sút. Mặt khác, khu đất này gần sân bay Nước Mặn, nhiều người e ngại chất thải dioxin trước đây trong sân bay còn tồn đọng, ảnh hưởng đến sức khỏe; liền kề khu đất này là vệt biệt thự dọc tường rào sân bay Nước Mặn đã giảm giá nhiều lần, thường xuyên quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng trong nhiều năm liền không có khách hàng liên hệ để nhận quyền sử dụng đất.
Nếu tính theo giá chuyển quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm năm 2009 (áp dụng Bảng giá đất năm 2009 do UBND thành phố ban hành) thì đơn giá bình quân toàn khu đất là 2.691.319 đồng/m2. Như vậy, giá giao quyền sử dụng đất cho Công ty Phúc Thiên Long cao hơn đơn giá tính theo thị trường tại thời điểm là 338.681đ/m2 (3.030.000đồng/m2 - 2.691.319 đồng/m2) nằm trong khung giá đất của Chính phủ quy định.
* Về việc chuyển nhượng giữa các tổ chức, cá nhân:
Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất quy định:
“Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền VND tính trên một đơn vị diện tích đất được hình thành từ kết quả của những giao dịch thực tế mang tính phổ biến giữa người cần chuyển nhượng và người muốn được chuyển nhượng không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tăng giá do đầu cơ, do thay đổi quy hoạch, chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống.”
UBND thành phố khẳng định đơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các cá nhân, tổ chức đối với khu đất này không phải giá thị trường trong điều kiện bình thường, vì:
- Sau khi Công ty TNHH Phúc Thiên Long được phép chuyển đổi tên sang ông Nguyễn Hữu Bình. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, ông Nguyễn Hữu Bình chuyển nhượng lại cho Công ty ATS (do bà Nguyễn Thị Thoa làm Giám đốc). Bà Thoa và ông Bình là hai chị em ruột (có quan hệ huyết thống).
- Giao dịch này không mang tính phổ biến, mà trên thực tế đã chứng minh cho thấy việc tăng giá đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các cá nhân trên nhằm mục đích nâng khống giá trị chuyển quyền sử dụng đất lên quá cao để được vay ngân hàng với số tiền lớn (Đây là thực trạng dẫn đến nợ xấu trong ngân hàng như hiện nay).
- Ngoài mục đích nâng giá đất ảo nêu trên thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các cá nhân, tổ chức là quan hệ dân sự giữa các bên, được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng, sang tên trước bạ theo quy định của pháp luật. Vấn đề này không thuộc quyền hạn và trách nhiệm của UBND thành phố.
Như vậy, việc Thanh tra Chính phủ kết luận: “Khu đất chuyển nhượng cho Công ty Phúc Thiên Long để xây dựng khu dịch vụ thương mại du lịch, đã được UBND thành phố xác định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2007, qua 4 lần gia hạn nộp tiền, đến tháng 9-2009 Công ty mới nộp tiền sử dụng đất nhưng thành phố không xác định lại giá (gây thất thu 120.172 triệu đồng), sau đó nhà đầu tư đã chuyển nhượng ngay cho đối tác khác thu lợi 498.442,206 triệu đồng” là không có cơ sở.
2. Khu đất phía Nam cuối đường Phạm Văn Đồng giao cho ông Hoàng Hải và bà Trung Thị Lâm Ngọc (21.000m2):
* Thanh tra Chính phủ có ý kiến:
“Khu đất phía Nam cuối đường Phạm Văn Đồng. Năm 2006, UBND thành phố chuyển nhượng cho ông Hoàng Hải và bà Trung Thị Lâm Ngọc, với tổng giá trị hợp đồng là 84 tỉ đồng. Đến năm 2008, ông Hải và bà Ngọc không triển khai thực hiện dự án, đã ủy quyền cho ông Phan Văn Anh Vũ chuyển nhượng cho ông Phạm Đăng Quan với giá chuyển nhượng là 581,526 tỉ đồng (thu chênh lệch 495,374 tỉ đồng). Năm 2009, ông Phạm Đăng Quan lại tiếp tục chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần Đầu tư địa ốc ô tô Phương Trang với giá là 585 tỉ đồng. Hiện trạng khu đất vẫn bỏ trống, chưa được đầu tư.”
* Về nội dung này, UBND thành phố có ý kiến:
- Ông Phan Văn Anh Vũ là người đứng ra chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hải, bà Ngọc theo hợp đồng ủy quyền; không phải là người nhận chuyển nhượng đất của ông Hải, bà Ngọc.
- Ông Phạm Đăng Quan là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc ô tô Phương Trang. Như vậy, giữa Công ty này với cá nhân ông Quan là một. Điều này cho thấy đơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tổ chức và cá nhân này không phải giá thị trường trong điều kiện bình thường;
- Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các cá nhân, tổ chức nêu trên là quan hệ dân sự giữa các bên, được Cơ quan công chứng chứng thực hợp đồng, trước bạ sang tên theo quy định của pháp luật. Vấn đề này không thuộc quyền hạn và trách nhiệm của UBND thành phố.
Tuy nhiên, qua thực tế thị trường bất động sản trên địa bàn thành phố đã xảy ra nhiều trường hợp các tổ chức, cá nhân nâng khống giá trị chuyển quyền sử dụng đất lên quá cao nhằm mục đích để vay ngân hàng với số tiền lớn nhưng thực tế trên thị trường không phải giá trị như vậy mà thấp hơn nhiều. Thực tế đã diễn ra nợ xấu trong ngân hàng như hiện nay.
3. Khu A2, A3, đầu tuyến Sơn Trà – Điện Ngọc:
* Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các cá nhân tạo ra sự chênh lệch lớn. Về vấn đề này, UBND thành phố có ý kiến.
Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 88/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất quy định:
“Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền VND tính trên một đơn vị diện tích đất được hình thành từ kết quả của những giao dịch thực tế mang tính phổ biến giữa người cần chuyển nhượng và người muốn được chuyển nhượng không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tăng giá do đầu cơ, do thay đổi quy hoạch, chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống.”
UBND thành phố khẳng định đơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các cá nhân đối với khu đất này không phải giá thị trường trong điều kiện bình thường, vì:
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính bà Phạm Thị Đông chuyển cho bà Trương Thị Chi, bà Lê Thúy Hương (Khu đất có ký hiệu A3). Bà Đông với 02 người này có quan hệ bà con trong gia đình, làm ăn với nhau, ….
Đối với khu đất có ký hiệu A2 giao quyền sử dụng cho bà Phạm Thị Đông, được UBND quận Sơn Trà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP986789 ngày 04/11/2009. Sau đó, bà Đông chuyển quyền cho bà Nguyễn Thị Xuân và được Cơ quan công chứng chứng thực hợp đồng theo quy định.
Đối với khu đất có ý hiệu A3, sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Trương Thị Chi, bà Lê Thúy Hương chuyển nhượng cho ông Trương Đình Trung. Tiếp đó, ông Trương Đình Trung chuyển nhượng cho Công ty cổ phần bất động sản Phương Trang (ông Trung là Phó Giám đốc của Công ty cổ phần bất động sản Phương Trang). Ông Trung và Công ty cổ phần bất động sản Phương Trang có quan hệ, cùng chung quyền lợi nên đã nâng khống giá trị khu đất nhằm mục đích để vay ngân hàng với số tiền lớn nhưng thực tế trên thị trường không phải giá trị như vậy mà thấp hơn nhiều. Thực tế hiện nay đã diễn ra nợ xấu trong ngân hàng. Như vậy giá chuyển quyền sử dụng khu đất này không phải giá thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định.
Ngoài những mục đích nâng giá đất ảo nêu trên, thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các cá nhân, tổ chức là quan hệ dân sự giữa các bên, được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng theo quy định của pháp luật. Vấn đề này không thuộc quyền hạn và trách nhiệm của UBND thành phố.
4. Khu đất giao cho Công ty Tân Cường Thành:
* Thanh tra Chính phủ kết luận:
”Khu đất chuyển đổi mục đích sử dụng đất của Công ty Tân Cường Thành tính giá thấp hơn giá thành phố quy định là 67.323,064 triệu đồng” là không có cơ sở, bởi vì:
Xét khu đất này ở khu vực gần đồi núi Phước Tường, cơ sở hạ tầng chưa đầu tư, đường Hoàng Văn Thái chưa được đầu tư nâng cấp mở rộng, khu dân cư nông thôn thưa thớt, gần khu vực khai thác đất, đá, gần bãi rác Khánh Sơn nên môi trường bị ảnh hưởng, UBND thành phố đã phê duyệt đơn giá đất sản xuất kinh doanh là 410.000 đồng/m2. Sau khi Công ty Tân Cường Thành đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất kinh doanh sang đất ở nông thôn, Hội đồng Thẩm định giá đất thành phố đề xuất giá chuyển mục đích sử dụng đất của khu đất này là 175.800 đồng/m2. UBND thành phố quyết định theo đúng đề xuất nêu trên của Hội đồng thẩm định giá đất.
Theo đó giá đất ở nông thôn giao quyền sử dụng đất cho Công ty Tân Cường Thành là 585.800 đồng/m2 (410.000 đ/m2 +175.800 đồng/m2) là đúng thẩm quyền và phù hợp với giá thị trường tại thời điểm, có xét đến yếu tố chuyển mục đích sử dụng đất trong điều kiện Công ty này phải tự bỏ kinh phí di dời cơ sở sản xuất theo hiện trạng (Thành phố không đền bù nhà xưởng, vật kiến trúc, hỗ trợ di dời trang thiết bị, đầu tư hạ tầng, san lấp mặt bằng…) theo chủ trương của UBND thành phố tại Công văn số 4865/VP-QLĐTh ngày 25/11/2010. Đơn giá này nằm trong khung giá đất của Chính phủ quy định.
5. Hai khu đất ký hiệu A4, A5 khu đầu tuyến Sơn Trà – Điện Ngọc giao cho Công ty Phú Mỹ:
* Thanh tra Chính phủ kết luận: “Khu đất A4, A5 (khu dân cư đầu tuyến Sơn Trà-Điện Ngọc). Năm 2007 chuyển nhượng cho Công ty cổ phần xây dựng thương mại Phú Mỹ để xây dựng chung cư, căn hộ cao cấp, văn phòng cho thuê và khách sạn du lịch, lãnh đạo UBND thành phố và Hội đồng không xác định theo giá đất ở mà giữ nguyên giá theo giá đất SXKD (bằng 0,7 giá đất ở) gây thất thu cho ngân sách. Đến năm 2010, Công ty cổ phần xây dựng thương mại Phú Mỹ chuyển nhượng cho Công ty bất động sản Phương Trang với số tiền là 285.645.920.000 đồng. Chênh lệch so với giá của thành phố xác định năm 2007 là 22.680.432.000 đồng” là không có cơ sở, bởi vì:
Hội đồng thẩm định giá đất thành phố đề xuất mức giá khởi điểm để đấu giá đất theo mục đích SXKD phi nông nghiệp là 2.570.000 đồng/m2 và được UBND thành phố quyết định theo đúng đơn giá nêu trên.
Sau khi đăng báo công khai đấu giá theo quy định của pháp luật nhưng hết thời hạn quy định vẫn không có tổ chức, cá nhân nào tham gia đấu giá và chỉ có Công ty cổ phần xây dựng thương mại Phú Mỹ có đơn xin nhận quyền sử dụng đất và được UBND thành phố thống nhất giao quyền sử dụng 02 khu đất A4, A5 với đơn giá sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 2.570.000 đồng/m2.
Sau khi Công ty này nộp toàn bộ tiền sử dụng 02 khu đất và được UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Giấy chứng nhận đã cấp cho Công ty Phú Mỹ (số AK280458 và AK280459) thì mục đích sử dụng các khu đất này là đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
Như vậy, UBND thành phố thu tiền sử dụng đất đối với Công ty Phú Mỹ là đất sản xuất kinh doanh, không phải là đất ở như ý kiến của Thanh tra Chính phủ.
6. Dự án Khu đô thị và sân Golf Đa Phước:
* Thanh tra Chính phủ kết luận: “Khu đất 29 ha thuộc dự án Sân golf Đa Phước giao cho Công ty CP 79 thấp hơn giá thành phố quy định làm lợi cho Công ty CP 79 là 570.826,323 trđ.” là không có cơ sở, bởi vì:
Ngày 16/11/2006, Công ty TNHH Daewon Cantavil và UBND thành phố Đà Nẵng ký Thỏa thuận nguyên tắc đầu tư dự án Khu đô thị phức hợp sân golf Đa Phước, cụ thể trên cơ sở giá thu tiền mặt nước được thống nhất trước đây là 300.000 đồng/m2 và đơn giá thu tiền thuê đất 0,1USD/m2/năm. Trong Thỏa thuận nguyên tắc này giao quyền sử dụng đất cho một Công ty Việt Nam liên doanh với Công ty Daewon với diện tích là khoảng 29ha với đơn giá là 300.000 đồng/m2.
Dự án này Nhà nước giao mặt nước cho chủ đầu tư, chủ đầu tư phải bỏ ra 100% chi phí để làm kè, san lấp mặt bằng nên việc thành phố thu tiền sử dụng đất với giá 300.000 đồng/m2 là phù hợp với giá thị trường tại thời điểm.
Đơn giá 300.000đ/m2 mặt nước với điều kiện nhà đầu tư phải bàn giao cho Thành phố khoảng 25 ha đã hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thuộc dự án Khu đô thị Đa Phước để Thành phố xây dựng khu vực công ích công cộng với chi phí phải bỏ ra khoảng 05 triệu USD. Theo giá đất hiện hành của thành phố thì giá trị của khu đất 25ha này là 988 tỉ đồng.
Như vậy, đối với khu đất 29ha, ngoài đơn giá giao mặt nước là 300.000đ/m2 thì giá trị thu được đối với 25ha nêu trên được phân bổ cho khu 29ha, theo đó tiền sử dụng đất 01m2 là 3.407.000đ/m2 (988 tỷ/29ha).
UBND thành phố khẳng định giá đất giao cho Công ty Daewon là giá mặt nước. Ngoài ra, việc thu tiền sử dụng đất thực tế cho 01m2 của khu đất 29ha là 3.707.000đ/m2 (3.407.000đ/m2 + 300.000đ/m2). Đây là đơn giá tiền sử dụng đất mà thực tế Thành phố được hưởng lợi với khu đất 29ha đã giao cho Công ty Daewon với đối tác là doanh nghiệp Việt Nam.
Thực tế thành phố thu và hưởng lợi được là 1.075 tỉ đồng (988 tỉ đồng + 87 tỉ đồng), cụ thể: 988 tỉ là số tiền hưởng lợi từ 25ha và 87 tỉ là tiền thu mặt nước của 29ha.
V. Vấn đề giảm 10% tiền sử dụng đất khi nộp đủ tiền sử dụng đất trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng:
UBND thành phố xem việc giảm 10% là hình thức hỗ trợ, khuyến khích các hộ dân giải tỏa nộp tiền vào ngân sách và hỗ trợ lãi vay cho các nhà đầu tư khi chuyển quyền sử dụng đất. Mặt khác, việc giảm 10% tiền sử dụng đất sẽ huy động nhanh nguồn kinh phí vào ngân sách để tái đầu tư phát triển thay vì ngân sách Thành phố phải đi vay với mức lãi suất bình quân thấp nhất là 12%/năm. Điều này phù hợp với khoản 2, Điều 14, Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất “Người sử dụng đất nộp đủ tiền sử dụng đất một lần theo thông báo của cơ quan thuế thì được giảm 20% số tiền sử dụng đất phải nộp” và vận dụng khoản 2, Điều 9, Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở:“… Nếu trả hết một lần ngay khi ký hợp đồng thì được giảm 10%….”; phù hợp với Quyết định số 13/2006/QĐ-TTg ngày 16/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế tài chính ngân sách ưu đãi đối với thành phố Đà Nẵng và Thông tư số 34/2006/TT-BTC ngày 19/4/2006 của Bộ Tài chính.
Vì vậy, thẩm quyền quyết định là của UBND thành phố. Thành phố cân nhắc, thấy có hiệu quả thiết thực mới quyết định. Đây là khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng 100%, không phân chia tỷ lệ với ngân sách Trung ương và nguồn thu này chỉ được dùng để chi đầu tư phát triển. Vì vậy, theo Luật ngân sách thì địa phương có quyền quyết định giảm 10% tiền sử dụng đất, UBND thành phố khẳng định việc thực hiện chính sách này là một trong những vận dụng linh hoạt, sáng tạo của Thành phố mang lại hiệu quả thiết thực, nguồn thu ngân sách tăng lên hằng năm.
Tính đến tháng 01/2013 người dân và doanh nghiệp còn nợ tiền sử dụng đất với Thành phố khoảng 04 nghìn tỉ đồng.
Nếu tính lãi suất của việc người sử dụng đất dây dưa không nộp tiền và yếu tố trượt giá với việc thu được tiền ngay thì mới thấy hiệu quả thế nào (?!). Năm 2011 do khó khăn chung của nền kinh tế nên Thành phố không thu được nợ tiền sử dụng đất; năm 2012 vẫn không thu được do Chính phủ có Nghị quyết 13/NQ-CP; năm 2013 Chính phủ cũng tiếp tục cho giãn nợ theo Nghị quyết 02/NQ-CP và khả năng năm 2014 cũng không dễ thu được số nợ tiền sử dụng đất này. Nếu tính lãi suất 12%/năm thì trong 04 năm đó lãi suất là 48%. Từ đó cho thấy Thành phố giảm 10% thấp hơn rất nhiều so với lãi suất 04 năm nêu trên.
Kết quả thu tiền sử dụng đất trong 10 năm qua (2002-2011) là 24.617,61 tỉ đồng, để đưa vào cân đối chi XDCB, chiếm tỷ lệ 73,81%/ tổng nguồn vốn chi XDCB (33.353,79 tỉ đồng).
Tóm lại, khi xác định giá để giao quyền sử dụng đất, Thành phố đã căn cứ vào Bảng giá đất do UBND thành phố ban hành hằng năm, có tính các hệ số theo quy định như: hệ số phân vệt chiều sâu lô đất, hệ số che khuất, mật độ xây dựng, hệ số đối với khu đất có vị trí thuận lợi, hệ số thị trường… theo đúng phương pháp xác định giá đất do Chính phủ quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ. Đơn giá UBND thành phố quyết định cụ thể đối với từng khu đất nằm trong khung giá đất và cao hơn nhiều lần so với giá tối thiểu do Chính phủ quy định.
Các cá nhân, tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau này là một (là anh em ruột thịt, hoặc là người của công ty và công ty)…. Ví dụ giá trị thực của khu đất là 100 tỉ đồng thì họ chỉ vay được 60 tỉ đồng (60%), nhưng khi làm hợp đồng chuyển nhượng thì họ nâng khống giá trị lên 600 tỉ đồng để vay ngân hàng được 360 tỉ đồng nhằm đầu tư vào dự án khác. Trường hợp Công ty TNHH Phúc Thiên Long mà trong kết luận Thanh tra Chính phủ nêu là một ví dụ. Thực ra hai chị em ruột chuyển nhượng cho nhau theo cách này. Vì thế không thể mang giá trị khống đó so với giá trị mà UBND thành phố phê duyệt có chênh lệch để quy kết thất thoát.
Từ phân tích nêu trên, UBND thành phố khẳng định:
1. Việc giảm 10% tiền sử dụng đất là chủ trương của thành phố có vận dụng quy định của pháp luật, mang lại hiệu quả thiết thực, nguồn thu ngân sách Thành phố tăng lên hằng năm, đồng thời hạn chế yếu tố trượt giá làm tăng suất đầu tư, có lợi cho ngân sách khi đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, an sinh xã hội, quốc phòng-an ninh… Mặt khác, UBND thành phố xem việc giảm 10% là hình thức hỗ trợ, khuyến khích cho nhân dân vùng giải tỏa nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách Thành phố và hỗ trợ lãi vay cho các nhà đầu tư khi nhận quyền sử dụng đất.
2. Việc xác định, quyết định giá giao quyền sử dụng đất được bàn bạc tập thể Lãnh đạo UBND thành phố là đúng thẩm quyền, có căn cứ theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với giá thị trường tại thời điểm.
Vì vậy, Thanh tra Chính phủ kết luận gây thất thu ngân sách 3.434.254.712.950 đồng là không có cơ sở, thiếu tính thuyết phục.
Kết luận này làm ảnh hưởng rất lớn đến phong trào cách mạng của Thành phố và quá trình thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong hơn 16 năm qua, với sự nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Thành phố và sự hỗ trợ giúp đỡ của Trung ương, Đà Nẵng đã có những thay đổi toàn diện về bộ mặt đô thị, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Thành phố đã tập trung thực hiện hiệu quả các chương trình mang tính nhân văn như Chương trình “thành phố 5 không” với mục tiêu “Không có hộ đặc biệt nghèo, không có học sinh bỏ học, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người để cướp của”; Chương trình “thành phố 3 có” với các mục tiêu “có nhà ở, có việc làm và nếp sống văn minh đô thị”, xây dựng thành phố môi trường…. Đấy là những tiền đề để Thành phố tiếp tục xây dựng thành trung tâm phát triển, là một trong những Thành phố đầu tàu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tham gia tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế của miền Trung. Cái quý nhất là Đà Nẵng đã tạo được sự đồng thuận cao của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trong việc thực hiện các chủ trương của Thành phố.
Lâu nay Đà Nẵng cũng được Trung ương đánh giá là nơi có phong trào tốt, có những cách làm mới, hiệu quả. Thanh tra là để chỉ ra những khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo nhằm rút kinh nghiệm để làm tốt hơn chứ không phải quy kết thiếu tính thuyết phục, làm ảnh hưởng đến phong trào cách mạng của Thành phố.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1930/VPCP_VI ngày 19/11/2012 thì hiện nay, UBND thành phố đang làm việc với Đoàn Công tác của Bộ Công an và đã chủ động có Công văn số 475/UBND-NCPC ngày 16/01/2013 đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm sắp xếp thời gian vào làm việc với Thành phố để xác minh làm rõ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trên đây là nội dung phản hồi của UBND thành phố Đà Nẵng đối với kết luận thanh tra Chính phủ tại Thông báo số 160/TB-TTCP ngày 17/01/2013./.
Theo báo LĐ
Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013
Teo dần quyền con người trong Hiến pháp
Hoàng Xuân Phú
Trong thời gian qua, nhiều người mong muốn sửa đổi Hiến pháp 1992, để bỏ hoặc thay đổi một số quy định, ví dụ như quy định về quyền lãnh đạo (được hiểu là đương nhiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội (Điều 4), và quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý (Điều 17–18). Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch. Ngược lại, tôi thuộc số những người lo rằng việc sửa đổi Hiến pháp có thể bị lợi dụng để hạn chế hơn nữa quyền con người. Và bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã cho thấy nỗi lo đó không phải là vô cớ. Thậm chí, không ngờ họ lại có thể đi xa như vậy…
Trong Hiến pháp 1992, thuật ngữ "quyền con người" chỉ được nhắc một lần, tại
"Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật."
Tức là "quyền con người" được đồng nghĩa với "quyền công dân". Vậy thì những người đang tạm thời bị tước "quyền công dân" sẽ không còn được hưởng "quyền con người". Hơn nữa, sau khi định nghĩa "Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam" (Điều 49), thì "quyền con người" sẽ không còn được áp dụng cho những người đang tồn tại trên đất Việt Nam, nhưng không hoặc chưa "có quốc tịch Việt Nam". Điều này cho thấy cách hiểu về "quyền con người" trong Hiến pháp 1992 phiến diện như thế nào.
Một thay đổi dễ nhận thấy trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là "quyền con người" được tách ra, được nhắc tới 8 lần, luôn đi cạnh và được đặt trước "quyền công dân". Ở chế độ mà giới lãnh đạo vốn rất khó chịu khi nghe nhắc đến "nhân quyền" (tức là "quyền con người"), thì đây là một bước tiến, muộn mằn nhưng có vẫn hơn không.
Một thay đổi nữa, là "quyền công dân" cùng "quyền con người" được đưa từ Chương V (trong Hiến pháp 1992) lên Chương II (trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Ở Cộng hòa Liên bang Đức, "quyền con người" được đặt lên vị trí hàng đầu, trong Chương I của Hiến pháp. Ở CHXHCN Việt Nam thì Chương I của Hiến pháp được dành cho "Chế độ chính trị". "Chính trị" là một cái gì đó rất thiêng liêng, mà cũng rất bí hiểm, và càng bí hiểm thì càng… hữu dụng. Khi muốn đùn đẩy công việc, thì tuyên bố: "Cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị." Khi muốn làm liều, thì khẳng định: "Với quyết tâm chính trị, chắc chắn sẽ làm được." Còn khi muốn lẩn tránh trách nhiệm của bản thân, thì chỉ cần tỏ chút áy náy và "nhận trách nhiệm chính trị".
Hai thay đổi kể trên là theo hướng tiến bộ, đáng được ghi nhận. Song như vậy thì mới thể hiện rằng quyền con người đã được chú ý hơn. Mà chỉ chú ý thì chưa đủ và cũng chưa chắc đã tốt. Chẳng hạn, nếu bạn được công an chú ý, thì điều đó không hẳn là dấu hiệu hay. Để đánh giá chính xác các thay đổi về quyền con người và quyền công dân, thì phải xem xét các quy định cụ thể.
Bài này không nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mà chỉ điểm qua một số ví dụ đáng lưu ý về sự thay đổi tiêu cực hay có thể là tiêu cực, liên quan tới quyền con người và quyền công dân. Hy vọng rằng những nhận xét dưới đây sẽ có ích cho những người đang muốn tham gia góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Quyền hư quyền ảo
Trong "Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, xuất hiện một quyền mới (so với Hiến pháp 1992) là:
"Điều 21: Mọi người có quyền sống."
Nghĩ một cách dân dã, thì thấy điều này có vẻ ngồ ngộ. "Quyền sống" còn hiển nhiên hơn cả "quyền ăn ngủ", bởi muốn "ăn ngủ" thì tất nhiên phải "sống". Vậy mà nếu hiến định rằng "Mọi người có quyền ăn ngủ" thì ai nấy đã thấy ngây ngô.
Thực ra, câu "Mọi người có quyền sống" cũng xuất hiện trong Hiến pháp của một số nước, chẳng hạn tại Điều 2 của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Jeder hat das Recht auf Leben). Điều đó chứa đựng một nội dung rất quan trọng, mà hệ quả trực tiếp của nó là: Không thể có án tử hình, vì tử hình một người là xâm phạm "quyền sống" của người đó.
Chấp nhận án tử hình hay không là một vấn đề nan giải, vẫn còn đang được tranh luận ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều nước vẫn duy trì án tử hình, như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Liệu có thật là nhà cầm quyền Việt Nam muốn hủy bỏ án tử hình hay không? Nếu đúng là họ muốn hủy bỏ án tử hình, thì đây là một thay đổi rất quan trọng. Còn ngược lại, nếu họ vẫn định tiếp tục duy trì án tử hình, thì Điều 21 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa thừa, vừa giả dối, và chỉ chất to thêm đống quyền hữu danh vô thực trong Hiến pháp mà thôi.
Một quyền mới khác trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp là:
"Điều 35: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội."
Điều này được sửa đổi từ Điều 67 của Hiến pháp 1992, quy định rằng:
"Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định."
"Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc."
"Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ."
Nghĩa là:
- Chỉ đề cập đến một số đối tượng đặc biệt, đó là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, người già, người tàn tật và trẻ mồ côi;
- Chỉ hứa hẹn một cách chung chung, là "được hưởng các chính sách ưu đãi", "được tạo điều kiện", "được khen thưởng, chăm sóc", "được Nhà nước và xã hội giúp đỡ";
- Chỉ đề cập đến mấy nội dung cụ thể, là "phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định", và những thứ đó chỉ dành riêng cho đối tượng thương binh.
Điều 35 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra những bước đại nhảy vọt so với Điều 67 của Hiến pháp 1992, đó là:
- Áp dụng cho mọi công dân;
- Không chỉ là hứa hẹn chung chung, mà nâng lên thành "quyền được bảo đảm";
- Nội dung "được bảo đảm" không chỉ dừng lại ở mấy nội dung cụ thể, mà bao trùm lên toàn bộ "an sinh xã hội".
Đây là một ý tưởng cách mạng vĩ đại, nếu họ thực tâm muốn triển khai. Tiếc rằng, nếu thực tâm thì ngây ngô, và nếu không ngây ngô thì không thể thực tâm.
"Quyền được bảo đảm an sinh xã hội" là một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi. Thời gian qua, mới chỉ tập trung cho một số đối tượng rất chọn lọc và chỉ dừng lại ở mấy chế độ phúc lợi rất khiêm tốn, thế mà còn chưa làm tốt nổi. Vậy thì sao có thể "bảo đảm an sinh xã hội" cho mọi công dân? Lưu ý rằng chế độ "an sinh xã hội" bao gồm cả chăm sóc về y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Lấy đâu ra tiền của để thực hiện "ý tưởng cách mạng vĩ đại" ấy?
"Công dân có quyền được bảo đảm", nhưng ai, cơ quan hay tổ chức nào phải đứng ra "bảo đảm"? Phải chăng cuối cùng họ sẽ phán rằng Dân phải "tự bảo đảm"?
Trong thời buổi tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, thì những chính sách viển vông không chỉ vô ích, mà còn rất tai hại, vì giới cầm quyền sẽ "mượn gió bẻ măng". Điều này đang diễn ra dưới nhiều danh nghĩa, ví dụ như việc xây nhà ở xịn để bán cho người nghèo ở giữa đô thị đắt đỏ. Khi đã đẻ ra một chính sách phúc lợi xã hội nào đó thì họ có cớ để vung tiền từ ngân sách, tức là tiền của Dân. Tất nhiên là không đủ để "ngập tràn thiên hạ". Lúc đó, "nước có quyền chảy vào chỗ trũng", nghĩa là ưu tiên cho "người thân" (theo nghĩa rộng, bao gồm cả những người quen thân vì tiền), và cũng không quên phần mình. Đối với các quan tham, "từ thiện" không còn là mục tiêu hành động, mà là phương tiện để vơ vét cho bản thân.
Hơn nữa, khi số tiền của ít ỏi có thể dành cho phúc lợi xã hội bị vung vãi trên diện quá rộng, thì nảy sinh nguy cơ là nhiều người lẽ ra vẫn được hưởng trợ giúp sẽ không còn được hưởng nữa.
Hai ví dụ kể trên cho thấy rằng: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể đem lại cho người dân một số quyền mới nào đó, nhưng có khi lại là những quyền hư ảo, trong khi những quyền bị cắt giảm thì lại rất thật, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo. Điều đáng buồn là: Xu hướng giả dối vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong việc xây dựng Hiến pháp.
Quyền thoi quyền thóp
Trong Điều 71 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
"Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật." (Điều 71, Đoạn 2)
Điều 71 được sửa thành Điều 22 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng toàn bộ quy định được trích ở trên (nhằm hạn chế việc bắt người tùy tiện và yêu cầu "bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật") đã bị xóa. Trong thời gian qua, Hiến pháp đã quy định rõ ràng như vậy mà công an vẫn bắt người và giam giữ rất tùy tiện. Rồi đây, khi quy định ấy đã bị gạch khỏi Hiến pháp, thì số phận người dân sẽ ra sao?
Trong Điều 74 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
"Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định." (Điều 74, Đoạn 2)
Điều 74 được sửa thành Điều 31 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng quy định vừa được trích (nhằm ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo) không còn nữa. Vốn dĩ, khiếu nại và tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm bất tận. Đến đại công thần của chế độ gửi kiến nghị cũng chẳng được hồi âm. Vậy thì sau này, khi ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo bị xóa khỏi Hiến pháp, Dân sẽ phải chờ đợi bao lâu?
Đoạn thứ nhất trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
"Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật."
Khi điều khoản trên hóa thân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, 5 chữ "và phải chịu hình phạt" bị loại bỏ. Thành thử chỉ còn sót lại như sau:
"Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật." (Điều 32, Khoản 1)
Hệ quả kéo theo là: "Khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" thì "không ai bị coi là có tội", song vẫn có thể "phải chịu hình phạt". Ở các nước văn minh thì hiển nhiên không ai "phải chịu hình phạt" khi chưa "bị coi là có tội". Nhưng ở xứ sở bất an, nơi khi được công an "mời vào" đồn thì vẫn còn mạnh khỏe, mà lúc "tiễn ra" có thể đã liêu xiêu, thậm chí có trường hợp trở thành xác không hồn, thì việc triệt tiêu 5 chữ "và phải chịu hình phạt" sẽ giúp cho công an nhân dân thêm vô tư "luyện võ" với Nhân dân.
Đoạn thứ hai trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
"Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh."
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, quy định này được sửa thành:
"Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật." (Điều 32, Khoản 4)
Nghĩa là: Từ "giam giữ" được thay bằng "tạm giữ, tạm giam". Hậu quả là: Khi đã kết án tù giam và chuyển từ trạng thái "tạm giữ, tạm giam" sang hình thức "giam giữ" để chấp hành án, thì người tù không còn được bảo vệ và người coi tù làm trái pháp luật không còn bị xử lý theo quy định của điều khoản sửa đổi.
Ba nội dung bị loại bỏ được đề cập ở trên đều có chung một "tội" là: Chúng hay để Dân níu bám, nhằm tố cáo chính quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Có lẽ vì vậy nên phải "kết liễu" chúng, đẩy chúng ra khỏi Hiến pháp, để… giữ gìn uy tín cho chính quyền. Ngoài ra, hai quy định sau đây cũng đã bị loại bỏ khỏi dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Điều 64 về hôn nhân và gia đình trong Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 39 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại bỏ đi đoạn quy định về trách nhiệm nuôi dạy con của cha mẹ và trách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cháu. Điều đó cũng có nghĩa là bỏ đi quyền của con cái được cha mẹ nuôi dạy và quyền của ông bà, cha mẹ được con cháu chăm sóc.
Điều 59 của Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 42 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng bỏ đi quy định:
"Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí."
Và nó được thay bằng một quy định chung chung trong Điều 66:
"Nhà nước… quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý…"
Vậy là, theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bậc tiểu học không còn hiển nhiên được miễn học phí.
Quyền treo trên lửa
Loài người từ khi sinh ra đã tồn tại và phát triển nhờ biết lợi dụng. Ban đầu thì sống nhờ săn bắt và hái lượm, tức là lợi dụng rừng và biển. Rồi tiến hành trồng cấy, tức là lợi dụng đất đai và ánh sáng mặt trời. Từ vận chuyển hàng hóa trên sông đến ngăn đập tạo ra thủy điện đều là lợi dụng sức nước. Từ căng buồm ra khơi đến tạo ra phong điện đều là lợi dụng sức gió…
Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thời cơ, khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại và chính quyền thuộc địa Pháp chưa kịp hồi sinh, để cướp chính quyền. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, đảng đã lợi dụng sự cưu mang, giúp đỡ và che chở của những người giàu có, để rồi khi chiếm được chính quyền lại đem bao ân nhân ra đấu tố… trong cải cách ruộng đất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam cũng đã lợi dụng tính mạng và của cải của Nhân dân cùng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để giành thắng lợi.
"Lợi dụng" thuộc vào bản năng sống và hành động của con người. Vậy thì việc "lợi dụng" có gì sai? Lợi dụng điều kiện thuận lợi không thể bị coi là xấu, mà không lợi dụng điều kiện thuận lợi cũng chẳng phải là điều đáng để ngợi ca.
Trong các nhà nước pháp quyền, hoạt động của toàn xã hội được điều tiết bằng pháp luật. Xã hội càng văn minh, càng đa dạng thì hệ thống pháp luật càng cồng kềnh và phức tạp. Dù cố gắng đến đâu đi nữa, thì vẫn luôn tồn tại những kẽ hở pháp lý và những quy định chồng chéo. Khi có kẽ hở thì công dân có quyền lách qua mà không hề vi phạm pháp luật. Khi tồn tại nhiều điều khoản chồng chéo, với những quy định khác nhau có thể áp dụng cho cùng một vụ việc, thì đương sự có quyền áp dụng điều khoản có lợi nhất cho mình. Vì vậy, ở một số nước phát triển cao vẫn công khai bày bán những cuốn sách về các mẹo tính thuế để giảm thuế. Những hành động như vậy không phải là tội lỗi, mà hoàn toàn hợp pháp.
Ấy vậy mà ở CHXHCN Việt Nam lại có một loại tội gọi là "tội lợi dụng…". Kỳ khôi nhất là "tội lợi dụng sơ hở của pháp luật…". Nếu cần xử lý, thì trước hết phải xử lý những người đã tiêu tốn tiền của Dân mà tạo ra sơ hở pháp luật, chứ sao lại dồn hết trách nhiệm lên đầu những người lợi dụng sơ hở đó? Kiểu quy tội này cũng "hợp lý" như việc quan phụ mẫu mặc quần thủng… lên công đường, rồi lại phạt dân đen vì tội nhìn vào chỗ thủng.
Hiến pháp 1992 có hai điều khoản "cấm lợi dụng":
"Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước." (Điều 70, Đoạn 3)
"Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác." (Điều 74, Đoạn 4)
Điều gì đáng nói ở đây? Như đã phân tích ở trên, riêng hành động "lợi dụng" thì không thể coi là tội, và vì vậy không thể cấm. Để mô tả những thứ cần cấm và có thể cấm trong hai điều khoản kể trên, thì chỉ cần viết gọn lại như sau là đã quá đủ:
"Không ai được… làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước."
"Nghiêm cấm việc… vu khống, vu cáo làm hại người khác."
Nghĩa là bỏ đi hai đoạn "lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo" và "lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo". Khi vi phạm các điều cấm vừa viết, thì dù "lợi dụng…" hay không cũng chẳng làm cho tội nặng lên hay nhẹ đi. Tức là, xét về mặt lô-gíc thuần túy thì các đoạn "lợi dụng…" là hoàn toàn thừa.
Vậy thì, tại sao nhà cầm quyền vẫn cố tình cài thêm các đoạn "lợi dụng…" vào các điều khoản ấy?
Phải chăng, đó là thủ đoạn pháp lý, nhằm hạn chế và cản trở những quyền con người và quyền công dân được gán sau từ "lợi dụng"?
Chắc hẳn, mục tiêu mà họ nhắm tới là ngăn cản việc thực thi các quyền đó, chứ không phải những cái gọi là vi phạm, mà họ bám vào để kết tội. Từ "lợi dụng" bị lạm dụng để bắc cầu, nhằm kết nối các quyền con người với các tội, để kiếm cớ phủ định các quyền chính đáng, rồi trấn áp và trừng trị những người thực thi các quyền đó.
Ví dụ: Nếu ai đó thực thi "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" (được quy định tại đoạn thứ nhất trong Điều 70 của Hiến pháp 1992), mà nhà cầm quyền không ưng, thì họ sẽ gán cho cái nhãn "làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Rồi dùng từ "lợi dụng" để bắc cầu "tín ngưỡng, tôn giáo" với cái vi phạm được ngụy tạo đó. Kết quả thu được là tội "lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Vậy là có thể vận dụng đoạn thứ ba trong Điều 70 của Hiến pháp 1992 và hệ quả của nó trong Bộ luật Hình sự (Điều 258) để trừng trị.
Điều 70 và Điều 74 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi thành Điều 25 và Điều 31 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó vẫn duy trì hai khoản "cấm lợi dụng":
"Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật." (Điều 25, Khoản 3)
"Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác." (Điều 31, Khoản 3)
Đi xa hơn nữa, họ còn đưa thêm một điều khoản "cấm lợi dụng" hoàn toàn mới vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
"Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác." (Điều 16, Khoản 2)
Với bảo bối vạn năng này, tất cả các quyền con người và quyền công dân đều có thể bị cản trở. Cái nhãn "xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác" thì quá bao la và có thể dễ dàng ngụy tạo. Trên thực tế, họ cũng chẳng cần phải mất công tìm kiếm hay bày đặt chứng cớ, mà chỉ cần nhắm mắt đưa ra kết luận mang tính quy chụp.
Những ai đã từng trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối hành động gây hấn của "bạn 16 chữ vàng", diễn ra tại Hà Nội vào hai mùa hè 2011 và 2012, thì đều có thể nhận thấy rằng: Những người tham gia biểu tình rất ôn hòa và luôn chú ý giữ gìn trật tự công cộng, để công an không có cớ trấn áp. Nếu có hỗn loạn thì lại do chính những người mang danh lực lượng giữ gìn an ninh và trật tự cố ý gây ra. Thế nhưng, nhà cầm quyền vẫn vu cho những người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng để đàn áp. Đó là một trong những thủ đoạn đã được áp dụng trên thực tế để cản trở và trấn áp công dân thực thi quyền tự do biểu tình.
Chưa hài lòng với cái lưới tà ma bao trùm kể trên, họ còn bổ sung một điều khoản "cấm lợi dụng" sau đây vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
"Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan." (Điều 64, Khoản 4)
Với quy định này, nhà cầm quyền có thêm phương tiện pháp lý để cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí…
Thủ đoạn lợi dụng… từ "lợi dụng" để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi là như vậy.
Quyền nằm dưới dao
Hiến pháp 1992 có một điều rất đặc biệt, đó là:
"Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."
Đặc biệt ở chỗ nào? Nó quy định 6 quyền cơ bản của công dân, nhưng… trên thực tế thì tất cả 6 quyền ấy đều bị nhà cầm quyền cản trở.
Ví dụ điển hình là quyền biểu tình. Với ràng buộc "theo quy định của pháp luật", nhà cầm quyền có thể thông qua Quốc hội để ban hành luật, nhằm hạn chế quyền biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Nhưng hàng chục năm trôi qua, vẫn không xuất hiện một luật nào liên quan đến biểu tình. Nhiều người, kể cả giới cầm quyền, nhầm tưởng rằng: Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân chưa được phép biểu tình. Nhưng bài "Quyền biểu tình của công dân" đã chỉ ra rằng: Theo Hiến pháp hiện hành thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình. Nếu đã có luật về biểu tình thì công dân phải tuân theo ràng buộc của luật đó. Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân càng có quyền biểu tình, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật, tức là càng tự do.
Điều 4 của Hiến pháp 1992 quy định rằng:
"Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật."
Căn cứ vào điều khoản này thì có thể nói rằng: Việc công dân biểu tình khi chưa có luật về biểu tình còn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của đảng. Tại sao lại chính đáng và hợp pháp hơn? Bởì vì "Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn Nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm." Nhà nước được hiểu là "một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình", nên ràng buộc kể trên đối với Nhà nước cũng có hiệu lực cho ĐCSVN. Hơn nữa, như ông Nguyễn Trung đã nhận định, "Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị." Rõ ràng, Hiến pháp hiện hành không hề đề cập đến khuôn khổ hoạt động của đảng và cũng chưa có luật nào quy định về khuôn khổ đó, cho nên đảng cũng chưa có được "những điều pháp luật cho phép" để mà "được làm", để mà "hoạt động". Trong khi đó, quyền biểu tình của công dân được minh định trong Hiến pháp hiện hành và chưa có luật nào hạn chế quyền ấy, nên hiển nhiên là công dân có quyền biểu tình không hạn chế.
Để ngăn cản và đàn áp biểu tình, chính quyền thường viện dẫn Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA (hướng dẫn thi hành nghị định đó). Nhưng bài "Lực cản Nhà nước pháp quyền" đã chỉ ra rằng:
- Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA vi phạm Hiến pháp và pháp luật;
- Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân;
- Dù bỏ qua hai khía cạnh vừa kể, thì lời văn của hai văn bản ấy cũng không cho phép áp dụng chúng để cản trở biểu tình yêu nước, như những cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2011 và 2012.
Hẳn nhà cầm quyền đã nhận ra rằng: Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cho phép họ cản trở quyền biểu tình của công dân. Ban hành luật về biểu tình thì họ hoàn toàn không muốn, vì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa thì vẫn sẽ "lọt lưới" một số cuộc biểu tình. Vậy phải làm thế nào bây giờ?
Lợi dụng thời cơ sửa đổi Hiến pháp, họ đã sửa Điều 69 của Hiến pháp 1992 như sau:
"Điều 26: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."
Điều gì thay đổi ở đây? Họ đã xóa hai từ "có quyền" trước đoạn "được thông tin" và trước đoạn "hội họp, lập hội, biểu tình". Đồng thời, họ dùng chữ "được" (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ "được thông tin") thay cho hai từ "có quyền" ấy. Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn "có quyền" (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước "quyền", và "quyền" bị hạ cấp xuống thành những thứ "được" ban phát. Mà "được… theo quy định của pháp luật" thì cũng có nghĩa là "chỉ được… theo quy định của pháp luật". Tức là công dân "chỉ được" ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành "quy định của pháp luật". Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành "quy định của pháp luật", thì Dân sẽ không "được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình".
Đây là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm tước đoạt quyền được thông tin và các quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.
Một điều khoản khác rất đáng lưu ý trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là:
"Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng." (Điều 15, Khoản 2)
Điều khoản này là một sáng tạo pháp lý mới mẻ của các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam. Chữ "chỉ" tạo ra ảo tưởng rằng: Điều khoản này nhằm hạn chế những hoàn cảnh mà quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, tức là để bảo vệ các quyền đó. Thế nhưng hậu quả của nó thì ngược lại.
Vốn dĩ, việc "quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn" không hề được đề cập đến trong Hiến pháp 1992. Nay điều này được nêu đích danh trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhằm hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân.
Danh sách "lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng" rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân, bất cứ lúc nào mà họ muốn. Vì vậy, việc nhét chữ "chỉ" vào điều khoản ấy chẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà chỉ ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa ấy mà thôi.
Điều khoản kể trên quy định rằng "quyền con người, quyền công dân… có thể bị giới hạn", nhưng lại không viết rõ ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.
Như vậy, Điều 15, Khoản 2 cũng là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm thu hẹp quyền con người và quyền công dân.
Hai ví dụ kể trên nhắc nhở mọi người phải hết sức cảnh giác với những bẫy pháp lý đã được cài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Giữ chút quyền Dân
Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã "đề nghị một quan điểm, một nguyên tắc", đó là:
"Thành tựu của Hiến pháp 1992 cần được bảo vệ và tiếp tục phát huy, đặc biệt nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy các quyền tự do cơ bản của nhân dân trên mọi mặt. Do đó, chỉ nên sửa đổi Hiến pháp 1992 nếu phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ, chú trọng đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế, nhờ thế tạo động lực mạnh mẽ hơn cho giai đoạn cách mạng mới. Nếu không làm được như vậy thì không nên sửa lặt vặt."
Tiếc rằng, đề nghị hợp lý và sáng suốt này chưa được phản ảnh đúng mức trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Không "phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ", như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, mà ngược lại, dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cắt giảm nghiêm trọng quyền con người và quyền công dân.
Dân không quan tâm nhiều đến việc ghế lãnh đạo được hoán vị ra sao và quyền lực được chia lại thế nào. Họ đủ thông minh để hiểu rằng: Những tiến bộ được tung hô, như việc bỏ hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, có thể là một bước tiến trong tư duy của giới lãnh đạo và giới lý luận, nhưng sẽ chẳng tác động mấy đến thực tế cuộc sống. Khi không còn được gán cho vai trò chủ đạo, thì thành phần kinh tế nhà nước sẽ được giũ bớt trách nhiệm đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng lại vẫn tiếp tục được hưởng mọi sự o bế và ưu tiên. Đó là lãnh địa lý tưởng cho tham nhũng, là đại lộ thông thoáng để tuồn tài sản toàn dân vào túi các quan tham.
Dân quan tâm nhất là các quyền lợi thiết thân, trong đó có quyền sở hữu đất đai.
Như đã trao đổi trong bài "Hai tử huyệt của chế độ", quy định trong Hiến pháp 1992 về quyền lãnh đạo mặc nhiên của ĐCSVN (Điều 4) và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17) là hai vấn đề tồn tại then chốt. Chúng phải được khắc phục sớm, vì Dân, vì Nước và cũng vì chính ĐCSVN. Thế nhưng, hai quy định này vẫn được dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo lưu, trong khi quyền con người và quyền công dân lại bị thu hẹp đáng kể.
Đối với Dân, Hiến pháp kiểu này có thể trở thành bãi mìn pháp lý. Nếu dự thảo như vậy được thông qua, thì Hiến pháp có thể không còn là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Nhà nước và xã hội, mà trở thành cái gông cùm Nhân dân và Dân tộc.
Chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện cái tâm và tầm của các tác giả, không chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia soạn thảo, mà kể cả những vị ngồi trên cao để chỉ đạo và áp đặt. Nếu chỉ hạn chế về tầm, tức là do trình độ hay do sơ suất, thì Nhân dân có thể góp ý để bù lại. Nhưng những ví dụ được đề cập ở trên cho ta ấn tượng là: Những thay đổi theo hướng tiêu cực trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tiến hành một cách có chủ ý và được tính toán kỹ lưỡng. Thậm chí, họ đã vận dụng cả những thủ thuật và thủ đoạn pháp lý tinh vi để thực hiện và che đậy mục đích đó. Khi tâm đã như vậy, thì liệu việc góp ý của Nhân dân có đủ để lay chuyển được quyết tâm sắt đá của họ hay không? Thật khó mà tin rằng họ có thể sữa chữa bản dự thảo để đưa ra một Hiến pháp thực sự tử tế với Dân.
Vì vậy, để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, thì nên tạm dừng việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Hãy đợi đến một thời điểm thuận lợi hơn, khi tầm đã đủ cao và tâm đã đủ ổn, rồi hãy thay đổi Hiến pháp một cách căn bản, theo chiều hướng tiến bộ, để có được một bản Hiến pháp thể hiện ý nguyện của Dân, do Dân và vì Dân.
Hà Nội, 15/01/2013
Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013
PHẢN BIỆN CẦN PHẢN BIỆN !
Phản phản biện
Ba Sàm
Nếu gọi những ý kiến của người dân đóng góp cho chính sách, luật pháp mà nhà nước đặt ra là “phản biện” thì trong bài này xin được tạm gọi “phản phản biện” là những ý kiến từ phía nhà nước hoặc những ai thử đặt mình vào địa vị của nhà nước để trao đổi lại với những phản biện của người dân.
1- Yếu kém. Từ lâu, nhiều lần, chúng tôi đã nêu lên một thực trạng không có lợi chút nào cho nhà nước Việt Nam, đương nhiên cũng tác động dội lại làm cho dân khổ, đó là họ rất yếu trong đối thoại với người dân. Mà một lý do quan trọng là họ hầu như không có những cây viết có trình độ, thực tâm, và có phương pháp khoa học, văn minh để trao đổi, tranh luận với người dân trên báo chí của nhà nước và mạng xã hội nhằm cho dân hiểu hơn về mình, rằng có những điều khó nói, có những khó khăn chưa thể vượt qua, có những hiểu lầm do chính bộ máy yếu kém, không thống nhất đã không hoàn thành trách nhiệm của mình, v.v..
Một phần vì vậy mà không thể không thấy có những cái nhìn quá nghi kỵ, đánh giá quá xấu với toàn bộ bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị, kể cả toàn báo giới được gọi là “lề phải”. Cái “quá” ở chỗ người dân khó thấy trong lòng cỗ máy khổng lồ đó, có rất nhiều con người giỏi giang, có nhiệt tâm, âm thầm cố làm được những gì ích nước lợi dân, hoặc chí ít thì cũng bớt càng ít càng tốt những gì có hại cho dân trong công việc làm, quyết định của mình hàng ngày. Họ cần được khích lệ bằng cách nào đó!
2- Cụ thể. Vậy cái đang được gọi là “phản phản biện” của nhà nước hiện nay trước “phản biện” của dân có hình hài ra sao? Xin tạm chia nó ra làm 3 loại.
Loại thứ nhất, là những bài viết chụp mũ, nói xấu vu vơ, bới móc đời tư đối tượng cần tấn công, mà thiếu lý lẽ thuyết phục và không bao giờ có tranh luận trực diện; ví như với một chủ đề nào đó, bài của “người nhà nước” và người dân phải được đăng tải công khai như nhau, được tiếp nhận đầy đủ ý kiến độc giả. Trong hàng ngũ này gần như không có một cây viết nào trong số nhà báo, nhà nghiên cứu, hàng ngũ trí thức được độc giả tin cậy, hoặc có thì lại không “dám” công khai danh tính. Thứ sản phẩm này hầu như mới chỉ có trên báo Quân đội Nhân dân, gần đây có thêm báo Nhân dân.
Loại thứ hai, mới đây xuất hiện kha khá, trên các blog, trang mạng tự do, là những “độc giả” lên tiếng bảo vệ cho cá nhân lãnh đạo nào đó, cho chế độ, mà mấy hôm trước đã được ông Trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội công khai cho biết. Cách “làm việc” và chất lượng thông tin mà những nhân vật này thực hiện là rất tệ, phản tác dụng.
Loại thứ ba, đáng chú ý, đáng bàn nhất. Họ có thể nằm trong số những blogger, những cây viết tiếng tăm trên mạng, các nhà báo, nhà văn ít nhiều có được cảm tình của người đọc. Họ có thể là người có những quan điểm không giống với đại chúng, có những cảm thông chân thành với phía nhà nước trong một số vấn đề, nhưng không dễ trình bày thẳng thắn mà không sợ bị độc giả chỉ trích, quay lưng. Họ có thể là những người hôm qua còn chỉ trích nhà nước rất nhiều, nhưng hôm nay đã thay đổi, vì một lẽ nào đó. Hoặc, không như nhiều người, cũng có thể có những điều họ không tán thành với nhà nước, nhưng phần lớn là ngược lại, họ ủng hộ nhiệt thành. Trong con người họ, những thói quen, nhận thức khuôn sáo, phản tiến bộ của một thời, khó gột rửa hết ngay được. Những nhân vật trên có thể nhận được “đơn đặt hàng” chính thức từ người của nhà nước, nhưng cũng có thể họ chỉ nhận được một lời nhờ vả có tính “bạn bè”, mà đằng sau là ý muốn của cơ quan chức năng nào đó. Thậm chí, có khi chỉ vì muốn thể hiện mình “không giống ai”, không theo “tâm lý bầy đàn”, … họ liền trình diễn màn xảo ngôn, theo đúng ý đồ của kẻ khác, mà quên rằng thiên hạ giờ đây đâu có còn khờ nữa. Họ đã thiếu trách nhiệm với cộng đồng, đặt cái “tôi” của mình quá cao, quên mất một điều quan trọng mà sơ đẳng là càng có ảnh hưởng trong dân chúng, thì càng phải cẩn trọng và có trách nhiệm hơn với lời lẽ của mình. Như vậy, nghiễm nhiên họ trở thành “đội quân thứ ba” một cách vô tình mà không hay biết. Dạng cuối cùng, họ có thể là người của nhà nước, được giao trọng trách trong thời gian đầu hãy bằng mọi cách giành được sự tin yêu nơi độc giả, trở thành “người của công chúng”, để rồi dần dần lái dư luận theo hướng có lợi cho nhà nước theo cách mà đông đảo người dân không muốn, hoặc đôi lúc cần thì “xuất chiêu” trong một “phi vụ” cụ thể để tránh cho nhà nước, cho các vị lãnh đạo phải chịu một áp lực tức thời không lợi cho họ từ phía người dân, sau đó lại “thu quân”.
Điểm yếu nhất của các cây viết thuộc “đội quân thứ ba” là bị thiếu đi lối viết ngay thẳng, thường phải chuyển tải ý tứ của mình bằng cách nói vòng vo, ám chỉ, “ngồi lê đôi mách”, bới móc đời tư, tung tin vu vơ, hèn hạ, tinh vi, hiểm độc, khai thác sở thích tò mò, thói thóc mách, nganh ghét, đố kỵ, nghi ngờ, cố dùng lời lẽ dung tục – tầm thường hóa đối tượng cần chỉ trích, từ đó đánh lạc hướng dư luận lao vào tranh cãi hoặc tìm hiểu, không còn quan tâm mấy tới chủ đề chính nữa, … Người đọc đôi khi khó thấy ngay “chiến thuật” này, nhưng nó chỉ dễ “sống” được ở thời báo giấy, còn thời đại Internet ngày nay thì lại nguy hiểm cho chính người viết, dễ bị lộ mặt, mất “giá” hoàn toàn.
Ngay từ những ngày đầu ra đời blog này, cách đây 5 năm 4 tháng, chúng tôi luôn xác định việc đăng bài vở, điểm báo, blog và bình luận, đều hướng tới thông tin đa chiều, công bằng, cố tránh cảm tính, định kiến, ác cảm. Nhiều báo, đài, blogger, nhiều cây viết nhận được những góp ý thẳng của chúng tôi, có khi tỏ ra khó chịu và hiểu lầm, thậm chí có cả lời lẽ miệt thị đáp trả. Nhưng rồi chính họ cũng lại vẫn nhận được ở chúng tôi những lời nhận xét trân trọng khi có những bài viết hay, những ứng xử mà người khác đáng phải noi theo.
Bằng cách làm đó, chúng tôi không cố công phát hiện “đội quân thứ ba” nói trên để phân biệt họ với những người khác. Tự những bài viết của họ, cùng với bình luận của độc giả và của chúng tôi, sẽ cho thấy dần họ là ai, hoặc hôm qua, có lúc họ như vậy, nhưng hôm nay đã khác rồi, theo chiều hướng tốt, hay ngược lại. Những ai có điều kiện theo dõi kỹ sẽ nhận ra điều này. Vài lo ngại, khó chịu của độc giả, hoặc chính đối tượng mà chúng tôi bình luận, sẽ được “hóa giải” bằng thực tế qua cách làm việc, xử sự của chúng tôi.
3- Thử nghiệm. Từ những đánh giá nói trên, chúng tôi từng nghĩ tới ý định lập nên một blog nữa, chỉ chuyên về “phản phản biện”, thử đặt mình vào địa vị người nhà nước, để tranh luận với những “phản biện” của người dân về nhiều vấn đề liên quan tới chính sách của nhà nước. Làm “thị phạm” một thời gian, để khích lệ những người khác cùng tham gia.
Rất muốn thực hiện điều đó, trước hết vì từng lăn lộn trong cơ quan nhà nước, thấy không ít điều trong gan ruột của nó, những cái dở người dân nhìn thấy, nhưng cũng có những cái tốt, người tốt thì người dân lại khó thấy được. Những người kém cỏi, vụ lợi, thiếu công minh trong nhà nước thì cứ chiếm thế thượng phong, còn người tốt, tài giỏi, có thực tâm, thì thiếu chỗ để cất lên tiếng nói của mình. Kể cả không ít người lãnh đạo thực sự muốn thay đổi tốt lên, nhưng họ bị phong tỏa, đầu độc thông tin, họ bị dân nghi ngờ, đánh giá xấu hết thảy. Tình trạng này càng kéo dài thì “người nhà nước” và người dân càng xa cách nhau.
Lực lượng “phản phản biện” mà chúng tôi muốn có này có thể coi là “đội quân thứ tư” thuộc về nhà nước, để đối thoại một cách sòng phẳng, bình đẳng, công khai với người dân, không như ba “đội quân” kia.
Một “lối thoát” khác cũng đã được chúng tôi đưa ra trong cuộc Hội thảo “Tác động của truyền thông xã hội lên tác nghiệp báo chí” mới đây, với tham luận “Đặc khu Thông tin”; đã có một số độc giả thắc mắc, nghi ngờ mục đích, mà chúng tôi chưa có dịp trình bày kỹ hơn.
4- Vài ví dụ, để thử nghiệm một lối tranh luận, đối thoại ngay thẳng giữa nhà nước với người dân:
- Mới đây nhất là chuyện Nghệ sĩ Kim Chi. Dễ hiểu là phía nhà nước lo ngại, với ít nhất 2 lý do. Họ sợ thái độ “bất kính” với giới lãnh đạo lây lan trong nhân dân và cán bộ, niềm tin vào đảng, nhà nước giảm sút. Họ sợ “mất giá” những loại giải thưởng, danh hiệu này nọ, “công tác tư tưởng”, tuyên truyền theo kiểu truyền thống bị thách thức.
Tiếc là họ hầu như chỉ có một cách đối phó duy nhất, khi mà bà Kim Chi không phải thuộc diện “thế lực thù địch” để có thể có những bài viết công kích trên mặt báo. Thế là báo chí tự biết phải lờ đi và trên mạng tự do thì họ tìm cách giảm nhẹ hiệu ứng lan truyền, bằng cách làm cho hình ảnh bà có đôi chút lem luốc, tầm thường. “Đội quân thứ hai” đã được huy động. Còn “đội quân thứ ba” … có lẽ đã được tận dụng?
Và đây là cách lập luận giả định cho “đội quân thứ tư” mà chúng tôi muốn nhà nước cần thử nghiệm:
Việc bà Kim Chi coi ông thủ tướng như là người phải chịu trách nhiệm duy nhất, cao nhất cho việc “làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” là không chuẩn xác. Ông chẳng qua chỉ là gã tài xế bị buộc phải chọn cỗ xe kỳ dị “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, mà trên đó là một đám lơ xe lười nhác, dối trá nhưng ông không thể đuổi việc được, mỗi ý định của ông đều phải xin ý kiến cả một đám chủ xe. Dẫu có ông Trời cầm lái cỗ xe đó cũng không thể cho nó đi tới nơi tới chốn. Chưa bao giờ chuyện này được đem ra mổ xẻ công khai. Rất có thể khi được “phân xử” một cách công minh, thì người chịu trách nhiệm lớn nhất cho việc “làm nghèo đất nước” này lại chính là người nắm quyền cao nhất nhưng cứ ôm khư khư cái “định hướng XHCN”, liệu có phải là ông thủ tướng nữa không?Nên bà Kim Chi đã có nhận định cảm tính, thiếu hiểu biết về cơ chế vận hành của cỗ xe này.
- Một ví dụ về cuốn “Bên thắng cuộc” của Nhà báo Huy Đức đang được dư luận rất quan tâm. Thay cho lý sự nóng vội và chụp mũ của Nhà báo Đức Hiển, ta thử giả định một lập luận khác xem sao, đó là:
Ông Huy Đức là một nhà báo, nhưng có được nhiều tư liệu sử, một lĩnh vực dù sao cũng xa lạ với ông, vậy tại sao ông không đem những tư liệu này trao đổi với giới sử học, cùng tìm tới một cách sử dụng hữu ích, khả dĩ chấp nhận được cho nhà nước này, từng bước làm biến chuyển những đầu óc bảo thủ, cứ muốn bưng bít sự thực lịch sử mãi? Vì chắc chắn giới lãnh đạo hiện nay cũng không được biết nhiều thông tin, những khúc mắc của lớp đàn anh mà ông Huy Đức có được và đưa ra trong cuốn sách. Nếu họ được tiếp cận theo một phương pháp khéo léo, rất có thể sẽ tốt cho họ, hơn là phải tiếp cận “thụ động” và rất sốc như hiện nay khi cuốn sách được xuất bản ở Mỹ, từ một NXB người Việt hải ngoại.
Sẽ là chưa muộn để phía chính quyền và ông Huy Đức, cùng nhiều người khác đã, đang viết những cuốn hối ký, sách lịch sử gặp nhau ở một điểm chung, hơn là sự đối đầu. Còn đem nghị định nào đó ra áp dụng để xử lý hình sự, như ông thứ trưởng Đỗ Quý Doãn nói, thì chỉ bế tắc thêm.
- Về quan hệ với Trung Quốc. Có những khó khăn mà không dễ nói ra với mọi tầng lớp nhân dân. Thử một cách lập luận sau:
Giới lãnh đạo trong nhiều nhiệm kỳ vừa qua đều phải chịu một gánh nặng hậu quả ghê gớm từ những gì mà lớp đàn anh đã làm trong hàng chục năm, thậm chí có nhiều điều họ còn chưa biết, liên quan tới quan hệ Việt – Trung. Họ buộc phải thực hiện cuộc lội suối dò đường trong mối quan hệ này. Không khéo, có thể phía “bạn” chơi khăm, tung ra một loạt tư liệu động trời làm sửng sốt người dân, từ đó gây bất ổn xã hội, chỉ có lợi cho Trung Quốc. Một phần vì vậy mà người dân cứ thấy có vẻ như họ lúng túng, che đậy nhiều quyết định, thông tin quan trọng mà lẽ ra người dân phải được biết. Có lẽ họ đang âm thầm xử lý khéo léo chăng?
- Về đường lối xây dựng, phát triển đất nước trong nhiều năm qua, luôn bị đông đảo người dân cho là có nhiều sai lầm. Xin gợi ý một cách nhìn nhận vấn đề theo hướng khác:
Đó là thực ra chúng ta đang phải chịu cả một sai lầm “vĩ đại” của cả nhân loại từ khi khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản, thậm chí cả văn minh phương Tây với đề cao tự do, phát triển năng lực cá nhân, ngày càng được coi là thứ ưu việt tuyệt đối. Chính những thứ này đã lôi cuốn cả thế giới vào một cuộc chạy đua mù quáng, tàn phá ngôi nhà chung của nhân loại, thỏa mãn nhu cầu tiện nghi vô độ của hiện tại, gây hậu quả khôn lường lên các thế hệ mai sau, đẩy toàn nhân loại ngày càng nhanh tới thời điểm diệt vong. Một cuộc tự sát từ từ, hầu như chưa có cách nào thoát khỏi. Vô tình Marx đã đúng một phần: CNTB không những “giãy chết” mà nó sẽ còn kéo theo cả nhân loại chết theo.
5- Kết. Mấy ví dụ trên để nói lên một điều rằng nếu như có những bài viết với những lập luận tương tự, được đăng trên các trang “không chính thống” thì sẽ giúp tạo nên không khí đối thoại công khai, bình đẳng, tạo sự cảm thông nhất định giữa người dân và chính quyền, mà chính quyền thì có thể tránh bị ràng buộc vào những nguyên tắc cứng nhắc nhất định của thể chế chính trị chưa thể sớm gỡ bỏ ngay được.
Với phương pháp này, qua “đội quân thứ tư”, cũng là để giảm bớt dần 3 đội quân kia, là thứ “hắc ám” không phù hợp với một xã hội văn minh, dễ làm lòng dân thêm căm ghét và xa cách, cần sớm được dẹp bỏ.
BS
NGƯỜI ĐEP NGỦ TRƯA !
)
Giấc ngủ trưa của Người đẹp Bình Dương
at 1/15/2013 12:09:00 PM
Bà Trần Thị Hài trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2007 (ảnh danlambao)
Người đẹp Bình Dương nói đây có tên là Trần Thị Hài. Cô không phải là hoa khôi, hoàn toàn không phải là Miss của tỉnh năm 2012.
Nhưng là một nhân vật đẹp, rất đẹp của tỉnh Bình Dương, rất nổi tiếng cả vùng Bắc Sài Gòn, đã 5 năm nay. Đẹp trong nhân cách, đẹp trong lẽ sống.
Xin mời các bạn xem bức ảnh của người phụ nữ ấy kèm theo đây. Đây là bức ảnh sống động của người phụ nữ đang thét vang: «Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!»,«Đả đảo bọn bành trướng Trung Quốc!» ngay trước Sứ quán Trung Quốc ở thủ đô Hà Nội, năm 2007.
Vẻ đẹp của Việt Nam. Nét đẹp tuyệt vời của lòng yêu nước. Rất xứng đáng để 14 ông Vua tập thể ngắm nhìn, ngẫm nghĩ. Nét mặt hoành tráng phơi bày hết lửa phẫn nộ.
Bà Trần Thị Hài năm nay 62 tuổi. Chồng bà là ông Đỗ Thành Huấn, gần 70 tuổi. Hai vợ chồng đều là đảng viên Cộng sản từ khi còn trẻ. Ông ra miền Bắc tập kết sau Hiệp định Geneve. Ông có huy hiệu 30 năm tuổi đảng, sau 1975 trở về quê hương lập nghiệp.
Hai vợ chồng chí cốt làm ăn, có 3 con gái, 1 con trai, 5 cháu nội ngoại.
Thế rồi bọn cường hào địa phương cướp đất của ông bà khi Bình Dương mở cửa cho tư bản nước ngoài vào đầu tư. Suốt 10 năm trời, vợ chồng ông bà gõ mọi cửa để đòi lại đất sở hữu hợp pháp của mình, nhưng bọn cường hào của đảng CS không những không trả, lại còn dọa bỏ tù về tội «gây mất trật tự trị an xã hội».
Thế là ông bà cùng vất lại thẻ đảng, vĩnh biệt đảng, phát đơn tố cáo, kiện đích danh phó chủ tịch tỉnh Trần Thị Kim Vân và thẩm phán Nguyễn Minh Hoàng đã tham gia cướp đất của dân trong tỉnh Bình Dương.
Hàng chồng đơn gửi cho tỉnh và trung ương đều không có hồi âm. Bà Trần Thị Hài xuống Sài Gòn, ra Hà Nội gõ cửa ba tòa quan lớn CS đều bị xua đuổi, còn bị chụp ảnh, ghi vào danh sách đen. Thế là bà gia nhập các cuộc tập trung, biểu tình chống bành trướng Trung Quốc, tiêu biểu cho sự gắn bó giữa những người bị cướp đất riêng với công dân yêu nước đau lòng vì đất nước bị ngoại xâm cướp đất chung. Tình nghĩa giữa bà Trần Thị Hài và các cô Bùi Thị Minh Hằng, Phương Bích và Phạm Thanh Nghiên trở nên thân thiết. Có lần bọn công an côn đồ xúm lại vặn tay, túm áo bà, chúng dẫm lên ống quần bà làm quần tụt ra, bà vẫn xông lên tay dương cao biểu ngữ, mặc chiếc quần lót, hét rằng: «Bay lấy quần bà chỉ đẹp mặt chúng bay, bọn mất dạy! » Cho đến cuối năm 2012 bà Trần Thị Hài vẫn bền bỉ tham gia đấu tranh không ngừng nghỉ.
Ngày 27/12/2012 vừa qua tòa án Thủ Dầu Một đã triệu tập bà Trần Thị Hài đến để xét xử về tội gây «mất trật tự xã hội, gây tụ tập đông người». Trong phiên tòa không có luật sư, không có thân nhân, không có nhân dân, hầu như chỉ có chánh án và 2 vợ chồng Trần Thị Hài - Đỗ Thành Huấn, hai cựu đảng viên CS.
Ngay sau khi tòa tuyên án sơ thẩm phạt bà Trần Thị Hài 9 tháng tù giam, bà ngẩng cao đầu nói với chồng «Ông về viết ngay kháng án, họ nói có 5 biên bản mà chỉ đưa ra có 2 biên bản, họ lừa dối». Hiện bà ở trong trại giam Bến Lớn.
Và khi ra cửa bà nói với bà con ở ngay cổng tòa án: «Chín tháng tù như giấc ngủ trưa, ra tù tôi sẽ chiến đấu tiếp!».
Một câu nói kiên định khảng khái của một cựu nữ đảng viên sau khi đảng nhe răng nhọn định xé thịt nuốt chửng mình. Một câu nói vang xa, để đời.
Cụ ông Đỗ Thành Huấn, cựu đảng viên cũng kiên cường không kém. Cụ kể với một nhà báo rằng về nhà cụ ngồi viết ngay đơn kháng án, nhưng tay cụ run lên vì giận dữ và khinh bỉ cái chính quyền bỉ ổi này, cụ không thể viết nổi các chữ ở đầu đơn theo thông lệ: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, vì trên đất nước này đảng CS đã hiến độc lập cho ngoại bang, nuốt tự do, cướp hết hạnh phúc của dân, còn gì đâu mà ghi.
«Chín tháng tù như một giấc ngủ trưa» là một câu châm ngôn bất hủ của một cặp vợ chồng cựu đảng viên ném vào giữa mặt nhóm lãnh đạo CS, những kẻ cướp đất của dân, bán đất của nước. Câu châm ngôn đó sẽ có sức động viên toàn dân ta vững vàng kiên định trong cuộc đấu tranh giành lại tự do trong năm 2013 mới bắt đầu.
(ST
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




